BAO GIỜ BIẾT TƯƠNG TƯ

When the nightlife was gradually fading and the night turned on a bluish color, you walked out of the night club in the Eden building. The cigarette smoke followed you and stayed with you. But, what stayed with you much longer was the music. It was in your ears; it was in your brain; it was in your heart and soul. You continued humming the tunes singing the words. You felt the undescribable beauty. You felt alive. After all what mattered more than beauty? You walked aimlessly for a while before hailing a cyclo. It was warm but it didn’t bother you. You sweated but that did not bother you. You were not even aware of it. It was Saigon, nightlife in Saigon, or more fashionable Saigon by Night. An aimless life but you passionately embraced it. You did not want to let it go, or change direction. You tried to live. You tried to take in as much as you could. If you could afford to go out every night you would. Because you tried to forget. Because you knew what was waiting for you one day, perhaps, at daybreak when you got out of this makeshift of an escape.

One of the songs most successfully captured that era was “Bao Giờ Biết Tương Tư”, even though it was written almost at the end of the war:

                 “Ngày nào cho tôi biết,                                                                                                                          Biết yêu em rồi tôi biết tương tư.                                                                                                    Ngày nào biết mong chờ,
Biết rộn rã buồn vui đợi em dưới mưa…

The verse gently, quietly carried you along, touching your deep yearning for beauty, fulfillment, beauty of true love and fulfillment of biblical origin. Then, the refrain soared:

                “Tình yêu đã trở lại,                                                                                                                                 Đôi mắt đêm ngày vơi hết đọa đầy.                                                                                               Tà áo em phơi bày,                                                                                                                                  Ngón  tay em dài, tiếng yêu không lời.

It was you, it was your hope, it was your raison d’etre, your reason to live, the essence of your life. The tune of the song did not evaporate with the approaching dawn. It stuck in the air and was flying around the City.

Some thing wonderful just happened to me last week here in Corona. I heard the song on my car radio. An acute nostalgia suddenly overpowered my Americanized self and, for a moment, took me 10,000 miles across the ocean to the other side, to a hot and humid city, a city so endearing. All the old feelings of different moods, melancholic, sad, happy, lively rushed in and for a long moment I felt as if I had never left.

But, beware of nostalgia. It will surely betray you and your memories. But don’t put the blame all on nostalgia. Memories are tricky too. By genetic design or not, memory seems to filter all the ugly and wicked. What is left is mellow, sweet and gentle. But when reality sets in, our high school friends are not as close, or chatty, or spontaneous as they were in years past. The old oak tree is not as green or well cared as you remember. The gong, a piece of metal from the railway hung from the oak tree, is out of place and rusted.

I had heard the song many times before. It, the refrain, never failed to envelope me with the feeling of being liberated from a restricted and pre-determined life in an era with nothing to offer but destruction, destruction of lives and destruction of dreams.

For a long time, I thought it was composed by Phạm Duy. Even now, many music videos continue to list his name alone as the composer; some identify both him and the true composer of the song, Ngọc Chánh, as co-songwriters. Phạm Duy was a talented and versatile composer. I did not have a deep academic understanding of music and musical forms to discern that the piece was probably composed by a different composer than Phạm Duy, one closer to the musical style of Trường Sa: the verse builds up slowly in a minor key then smoothly and soaringly transcends into the major, lifting your spirit and doubling, tripling your enjoyment and filling you with euphoria.

There is no doubt that Ngọc Chánh was aware of Phạm Duy’s lyrics for many of Phạm Duy’s own songs. Phạm Duy never seemed to care about meaningful lyrics. From “Sức Mấy Mà Buồn” to “Ngày Trở Về”, to his lyrics for Schubert’s “Serenade”,  for him, the meaning of the lyrics was secondary. The rhyme and rhythm reigned supreme.

I read somewhere, and I may be mistaken, that Ngọc Chánh asked the writer Duyên Anh first before giving the task to write the lyrics to Phạm Duy. That decision turned out to be extremely fortunate. Sometimes, you are hard pressed to know what Phạm Duy wanted to say in a song, but there is little doubt that he was a genius when it came to choosing the right  words  that the pronunciation of the words would  compliment the music:

                                              “Tình Yêu Đã Trở Lại…”    

Every performer would be grateful for the choice of these words as they give power to his voice and make his voice sound better. In turn, the singer finds it quite effortless to let his voice soar with the spirit of the song. And it would not be difficult to imagine Phạm Duy looking down on us, asking “So, what is all the fuss about the meaning of the lyrics?”.

Together, Ngọc Chánh and Phạm Duy by this song, recorded a deep universal feeling of an era. It is a simple song, just a moment of inspiration. But, this and many other contemporaneous songs played during that period of time, under such circumstances, have stuck to the psyche of a people. The songs have preserved not just a precious unspoken feeling, but also evidence of a kind of life, a heroic kind of life of a people trying, in small ways,  to stay  sane, and to find happiness.

John P. Phong, Esq.                                                                                                      June 13, 2019

 

 

 

TƯỞNG NHỚ TÔ THẾ LIỆU VÀ BÙI NHỮ TRỤ

Miền nam California có những ngày đẹp, như người Việt mình thường nói, không chịu được. Nếu không sống ở đây, không experience sự kỳ diệu đó, thì khó mà mô tả cho những người sống ở những nơi khác như Texas hiểu được. Trong những ngày như vậy tôi chỉ muốn nhìn lên bầu trời thầm cảm ơn, cảm thấy được ân huệ, hạnh phước, đầy sinh lực và lòng yêu thương.

Ngày chôn cất Liệu, trời đất, như lãng trí và thiếu một ý thức về sự thích hợp và cân xứng, đẹp như vậy. Cỏ xanh như chảy dài giữa những cây thông. Đứng trên đỉnh đồi nhìn chung quanh, cảm giác của một người là đang chiêm ngưỡng một bức tranh. Nhìn quanh tôi có thể nhận ra rất nhiều khuôn mặt quen thuộc và cũng rất nhiều những khuôn mặt đăm chiêu tôi không quen biết. Liệu ra đi trong khung cảnh như vậy, bạn bè vẫn còn đó, vườn cỏ vẫn còn xanh và mặt trời vẫn còn lên – xin mượn lời Trịnh Công Sơn – như gia trọng nỗi xúc cảm, tự nó đã u uẩn và nặng nề.

Có một cái gì không trọn vẹn, không hoàn thành, như đứt đoạn nửa chừng. Có thể đó chỉ là cảm xúc của tôi còn sự thực không hẳn đúng như vậy. Nhưng trong giây phút đó, tôi như sống lại một giấc mơ, trở về một khung trời tuy khác hẳn nhưng rất quen thuộc, trong đó một thế hệ đã sinh ra và lớn lên. Và có lẽ không một nhóm hay đoàn thể nào tượng trưng trung thực cho thế hệ đó hơn nhóm giáo sư Văn Hóa Vụ Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt: tốt nghiệp đại học, khỏe mạnh, đầy khả năng sinh lực và hoài bảo.

Nhưng định mệnh như ra khỏi tầm tay.

Đứng nhìn quan tài Liệu hạ huyệt ngày hôm đó, tôi cảm thấy như muốn chảy nước mắt.

Ở quán ăn Hà Nội, tôi hỏi Liệu có nghĩ đến việc ra một tờ báo hay không. Liệu trả lời: “thôi toa”. Câu trả lời bày tỏ một thái độ hơn là thông tin cho nên tôi không chắc đã hiểu rõ ý của Liệu. Khi vừa bước chân vào, Liệu chào hỏi gần hết những người ngồi ăn trong quán, còn tôi biết một hai người nhưng không quen ai. Vì vậy tôi không hỏi tiếp, ý thức sự hiện diện của nhiều bạn bè của Liệu và sự tế nhị của hoàn cảnh.

Sau đó không lâu, chúng tôi lại có dịp gặp nhau. Tuy Liệu không nói ra một cách rõ rệt, tôi thấy Liệu không vui với việc làm hiện tại. Tôi lại đề cập đến vấn đề làm báo. Liệu trả lời giống y lần trước “thôi toa”. Tôi tò mò muốn biết ý nghĩa của hai chữ “thôi toa”.

-Nghĩa là sao?

-Moa không có giờ.

-Ông có thích chỗ ông đang làm không?

-Cũng tạm thôi.

-Khi ra báo rồi thì ông đâu có làm việc nầy nữa, sao lại không có giờ?

-Làm báo cực lắm toa.

-Ông đang làm tờ Tin Thư Văn Hóa Vụ, rất được, còn nhiều bài vở hơn hẳn các tuần san với nguyệt san ở đây. Đã làm tờ TTVHV thì thêm một ít giờ nữa làm luôn một tờ báo thương mại. Moa nghĩ tờ báo ông làm nếu không hơn 90% những tờ báo đang ra ở đây, thì cũng không thua được.  Ông chỉ cần kiếm quảng cáo…

-Lấy quảng cáo khó lắm toa.

-Well! Nếu làm báo ông sẽ không làm một mình. Không cần nhìn xa, trong Văn Hóa Vụ đã đủ nhân tài để ông tìm partners. Còn làm dịch vụ thì sao?

-Thôi toa.

-Ông có cả lô bạn làm dịch vụ. Họ làm được ông làm được.

-Phiền phức lắm toa.

-Ông có làm bao giờ chưa mà biết nó phiền phức?

Liệu cười, khúc khích, hiền lành và tự nhiên.  Khi nhìn Liệu cười tôi hiểu được tại sao Liệu có nhiều bạn. Và tiếng cười của Liệu trong điện thoại đã cứu vãn được tình bạn của chúng tôi.

Liệu hỏi ý kiến tôi giùm cho một người bạn về một vấn đề luật pháp. Tôi trả lời có lẽ hơi dài dòng, vừa pháp lý vừa thực tế dựa vào kinh nghiệm làm việc của tôi. Tôi chấm dứt cuộc điện đàm khi Liệu nói “Cậu thế mà biết nhiều nhể”, như thể Liệu ngạc nhiên vì tôi hiểu biết một vài điều, ngay cả điều trong ngành của tôi.

Rồi tôi cũng quên đi cho đến khi Liệu bị bệnh. Tôi có vào City of Hope thăm nhưng Liệu đã về nhà rồi. Sau đó trong điện thoại Liệu cho biết thử nghiệm cho thấy bệnh đang thuyên giảm. Vì Liệu vô ra nhà thương nhiều lần, và vì mỗi khi nói chuyện, Liệu rất lạc quan cho nên tôi hiểu sai bệnh trạng của Liệu. Trong những lần nói chuyện sau đó, Liệu cứ lập lại cái điệp khúc “qua đây uống cà phê. Sao cậu trốn anh em kỹ thế”. Đối với tôi, đó là dấu hiệu Liệu rất bình thường.

Khi tôi có thể qua thăm Liệu được nhân dịp dự party nhà em của chị Liệu, thì Liệu không có đó, đang nằm ở nhà thương. Mấy hôm sau Liệu gọi qua, tôi nói có mang cho Liệu một chai Kendall-Jackson, rượu vang số một ở Mỹ. “Cậu biết nhiều về wine nhể”. Tuy lần này không có chữ “thế mà”, nhưng tôi vẫn cảm thấy chạm nọc và bắt đầu hơi nóng thì nghe tiếng cười của Liệu trong điện thoại. Tôi hiểu ra rằng Liệu không thể nào có ẩn ý. Tôi nguội lại, hứa sẽ qua thăm, và cảm thấy hơi hối hận. Như một hình thức xin lỗi, tôi nói với Liệu thực sự tôi không biết nhiều về rượu như Liệu nghĩ. Kendall-Jackson là vì tình cờ tôi đọc báo, còn sự hiểu biết của tôi về wine, hay bất cứ rượu gì, là như thế này: loại giá $23.99 ngon hơn loại giá $7.99.

Tôi đề cập với Liệu hai vấn đề trên là vì tôi thấy Liệu có thể làm được. Làm báo như đã nói trên. Dịch vụ chỉ cần một khả năng hoặc vốn liếng duy nhất: xã giao quen biết. Tôi chưa thấy ai quen biết nhiều như Liệu. Saigon Bistro nằm một nơi vắng vẻ. Nhưng khi Liệu đi với tôi, chỉ có một lần, vừa đến là nghe tiếng chào hỏi vọng ra “đi đâu đây”? Không phải chỉ một người, cả bàn quen biết Tô Thế Liệu. Cách Liệu chào hỏi ứng đáp biểu lộ một tính tình hiền hòa, chân thật và thân thiện, nồng nhiệt trong thái độ và tự nhiên trong cử chỉ.

Sự tự nhiên như cá gặp nước đó, cũng như hoạt bát và chính xác trong ngôn ngữ, tỏ rõ nhất khi Liệu điều hợp các buổi họp mặt của VHV. Vui và ấm trong giọng nói, khôi hài thỉnh thoảng nhưng hợp lúc, ôn tồn và từ ngằn trong cách trình bày, Liệu có tài mà hình như không biết mình có tài, không phô trương, không chen lấn, không kể công và không làm điều gì với hậu ý. Liệu không hăng hái trong việc ra một tờ báo thương mại, nhưng lại nồng nhiệt đốc thúc mọi người góp sức xuất bản một cuốn tự điển bách khoa.

Tánh tình của Liệu làm tôi nhớ tới Bùi Nhữ Trụ.

Tôi không thể nhớ lại được làm sao tôi lại vào ở chung phòng với Bùi Nhữ Trụ ở khách sạn Thủy Tiên II ở Đà Lạt. Sự kiện tôi, thuộc loại lính mới, đàn em, vừa đến dạy ở Võ Bị lại được vào chia một phòng ở Thủy Tiên là một biến cố trọng đại. (Nhưng tôi chỉ biết sau này. Khi mới đến, tôi như đi trong một giấc mơ, không để ý đến cái gì hết. Tôi ghét nguyên cả thành phố).

Khi lái xe trên Highway 1 (Pacific Coast Highway), đi từ Santa Monica về hướng Malibu, phía bên tay phải sườn đồi dựng đứng như một bức tường đá từ mặt đường Highway 1 lên đến mép đồi. Thử tưởng tượng Malibu cho phép xây một khách sạn trên đồi này mà bức tường ngoài của khách sạn cách mép của sườn đồi vào khoảng hai thước. Thay Malibu bằng Đà Lạt thì cái khách sạn tưởng tượng đó là khách sạn Thủy Tiên II và phía dưới thay vì Highway 1, sườn đồi đổ thẳng góc xuống một trường tiểu học.

Có thể nói là sống ở Thủy Tiên II, chúng tôi sống với sự nguy hiểm hằng ngày và, như một vị nào đó đã nhận xét, chúng tôi mang nguy hiểm vào giường ngủ mỗi đêm, nhất là khi trời mưa (và Đà Lạt mưa nhiều hơn nắng) đất có thể chùi, khách sạn có thể sụp bất cứ lúc nào.

Nhưng đối với giáo sư VHV, Thủy Tiên II như một khách sạn năm sao, một đặc quyền chỉ các đàn anh, thế lực hoặc quen biết lớn mới vào được. Khi đã vào rồi các anh làm đủ cách để chiếm nguyên một phòng cho riêng mình không muốn chia cho ai hết, kể cả vung vải quần áo dơ khắp nơi để không ai dám ở chung.

Một hôm Trụ hỏi tôi có biết X, cũng dạy ở Võ Bị, hay không. Tôi nói không. Trụ chỉ cười không nói tiếp. Mấy hôm sau một người bạn khác cho tôi hay là X bảo Trụ đừng để tôi ở chung lâu như thế. Tôi hỏi Trụ có đúng X nói như vậy hay không. Chưa hết nóng, tôi cho Trụ hay là tôi sẽ dọn ra ở với cậu tôi. Trụ vừa cười vừa nói X không có ý gì xấu đối với tôi hết, chỉ vì, như những vị đang một mình một cõi, không muốn trường hợp tôi trở thành một tiền lệ để VHV trưởng hoặc chỉ huy trưởng buộc các vị đó phải chia phòng với các sĩ quan khác, chỉ có vậy thôi. Rồi rủ tôi xuống Mekong. Đó là Bùi Nhữ Trụ, không một chút ẩn ý và không thể nghĩ ai có ý xấu. Tôi thấy rất dễ chịu. Mọi sự có vẻ tốt đẹp, không giống như năm phút trước đó.

Kết bạn dễ dàng, di dộng tự nhiên thoải mái từ nhóm này sang nhóm khác và ở đâu cũng được hoan nghênh tiếp đãi nồng nhiệt là khả năng độc đáo của Trụ. Tôi chưa bao giờ thấy Trụ nóng giận và lớn tiếng. Trừ một lần bị chỉ định trực thế cho một vị nào đó vào cuối tuần. Tôi không nhớ rõ ai chỉ định, Lê Văn Nhậm, Nguyễn Văn Thời hay Nguyễn Ngọc Bội. Khi thấy Trụ đóng bộ, tôi hỏi đi đâu đó, Trụ đỏ mặt trả lời: “Cái thằng củ c— bắt tao trực thế cho thằng … bữa nay!” và giọng nói chỉ hơi khác nhưng không cao hơn bình thường bao nhiêu.

Một cá tánh như vậy, giống như Liệu, biểu lộ một bản chất đối nghịch với bon chen, không hòa hợp được với sự bon chen. Tuy nhiên trong hoàn cảnh chúng tôi đang sống lúc đó, bon chen là một sự cần thiết. Và Trụ hình như ý thức điều đó.

Một hôm Trụ đi về có vẻ yên lặng hơn thường lệ. Như biết tôi đang để ý, Trụ nói: -Trung Úy … vừa được lệnh cho về Saigon. Trong cách Trụ nói tôi cảm thấy như có một chút ước mong.

-Toa lên đây cũng lâu rồi, sao không xin đổi về Saigon?

-Tao làm đ– gì có tiền. Thằng … (ông Trung Úy) có cả một hãng bán vật liệu xây cất ở Phan Thanh Giản.

Nhưng Trụ cũng biết rằng tiền không phải là yếu tố cần và đủ. Có những người khác được thuyên chuyển mà không nhờ đến tiền.

Nhưng có cái gì trong cá tánh làm cho Trụ hình như đố kỵ việc xin xỏ chạy chọt. Trụ không bao giờ nói mày có thuốc lá cho tao một điếu. Bùi Nhữ Trụ không xin, ngay cả chỉ xin bạn bè thuốc lá.  Cách thức của Trụ là “có mang thuốc không mày, đưa tao một điếu. Không hiểu tao để bao thuốc ở đâu”. Như tiềm thức không cho phép Trụ làm hay nói điều gì, dù nhỏ bé, có thể tổn hại đến tư cách của mình.

Động lực tiềm ẩn đó, a sense of dignity, làm cho Trụ trông rất khôi hài khi lâm vào hoàn cảnh bị chi phối bỡi hai đối lực. Lực một, ngoại cảnh làm cho Trụ muốn dấn thân. Lực hai, sự e ngại phải đối đầu với những điều bất ngờ, phiền toái hoặc xấu xí. Giải pháp của Trụ là chọn phương cách gián tiếp hoặc đi bên lề.

Một buổi chiều không biết làm gì – và chúng tôi có rất nhiều những buổi chiều như vậy – Trụ cắn điếu thuốc giữa hai hàm răng vừa cười vừa nói “Mày lại nhớ tiệm chè Duy Tân, sao không đi đi? Nếu ngại đi một mình thì ông đi với mày cho vui”. Câu này Trụ nói, và là người rủ tôi đi chớ không phải tôi rủ Trụ đi xuống Duy Tân.

Trụ thường kéo tôi xuống chợ mới Hòa Bình thăm chị Nghĩa. Đi một hai lần, tôi biết chị Nghĩa rất mến Trụ (vì vậy tôi dùng tên chị mà không ngại chị giận nếu chị đọc được bài này).

Một hôm Trụ thắng bộ có cả cravate rủ tôi xuống phố. Trụ vẫn thường cravaté nên tôi không thấy có gì đặc biệt. Sau khi đi quanh khu Hòa Bình, chúng tôi lại hướng về khu chợ mới.

Một ngày tiêu biểu trong cuộc đời của một giáo sư VHV bắt đầu, trong trường hợp của tôi, khoảng 7:00AM, dạy một hoặc hai lớp ở Võ Bị trễ lắm 10:00AM là xong; rồi trở về Thủy Tiên khi Đà Lạt vẫn chưa thức dậy, thay quần áo xuống phố đi dạo một vòng cho đến giờ ăn; ăn xong lại đi dạo chờ giờ đi ngủ. Thành thử ngồi ở Mekong, hay Cafe Trúc, Cafe Tùng, Chè Duy Tân, nhà Thủy Tạ, hay đi ngang quán bánh mì cà phê bí tất gần bến xe hoặc xuống chợ Hòa Bình, chợ mới … đối với tôi exciting như nhau nghĩa là exciting hơn ngồi ở Thủy Tiên nhìn bức tường.

Bỡi vậy khi chợt thấy mình đặt chân xuống cái cầu nối vào cửa chính chợ mới, tôi không nghĩ là có gì đặc biệt hôm đó. Trụ chào hỏi chị Nghĩa bình thường, cười bình thường nghĩa là môi mở lớn nhưng điếu thuốc vẫn giữa hai hàm răng. Chị Nghĩa cười thật tươi rồi quay vô trong. Khi quay ra chị bước về phía Trụ, trên tay có hai chai champagne.

Đây là một việc có hơi bất thường. Bây giờ tôi không nhớ chị Nghĩa nói gì nhưng tôi không quên câu nói của Trụ – đang tìm cách che đậy sự bối rối – “chị Nghĩa cho thì lấy đi mày, lại còn vờ”. Tôi muốn cười chết đi được nhưng không giám trước mặt chị Nghĩa.

Sau này tôi đoán, nhưng cho đến nay vẫn không biết chắc, đó có lẽ là dịp sinh nhật của Trụ. Trên đường về tôi không thể bỏ qua được. Tôi cố nín cười cao giọng chỉ trích là Trụ đã xúc phạm chị Nghĩa vô biên khi gọi chị bằng chị. Tôi nói sự kiểu cách nghiêm trang của Trụ sai chỗ, chẳng khác gì như Lục Vân Tiên bảo Kiều Nguyệt Nga “thôi thôi ngồi đó chớ ra, nàng là phận gái ta là phận trai”, ra vẻ đĩnh đạt nhưng nghe vừa cả đẩn vừa tối dạ. Trụ cười “mày … chị Nghĩa rất đoàn hoàn”. Tuy không hiểu rõ câu này, nhưng tôi không hỏi nữa, sợ rằng sự đùa nghịch có thể đi quá xa.

Nhưng tôi đoán chắc Trụ không có ý gì cả. Tôi có cảm giác Trụ quá lịch sự, quá lễ độ trong sự giao thiệp với phái nữ. Đức hạnh đó có lẽ có lợi rất nhiều khi cha mẹ đi hỏi vợ cho, nhưng ái tình đòi hỏi táo bạo và liều lĩnh hơn một chút. Trong thời gian tôi ở Đà Lạt, tôi chưa bao giờ thấy Trụ đi xa hơn “cô” và “tôi”.

Tôi xin kể ra đây một câu chuyện Trụ kể lại cho tôi nghe. Ngôn ngữ có hơi táo bạo, nhưng tôi phải thuật lại nguyên văn mới diễn đạt được cái thâm thúy của câu chuyện. Trụ ngồi uống cà phê với T (cũng dạy ở Võ Bị). Bàn bên cạnh có một sĩ quan vừa mới đi tu nghiệp ở Mỹ về. Vị sĩ quan trong lúc nói chuyện hay châm thêm tiếng Anh làm cho T rất nực. Khi vị sĩ quan này nói là ông ta quên tiếng Việt vì qua Mỹ lâu quá thì T hết chịu nổi, lớn tiếng cho cả thế giới cùng nghe “Đ-ụ m-á, ông di cư vào Nam lâu quá ông quên cả chữ đ-ị-t m-ẹ”.

Trụ kể lại với sự sôi nổi và hứng khởi của một người vừa gặp được bạn tri kỷ. Khi vừa nghe, tôi có cảm giác Trụ đang bày tỏ một thái độ: “anh đi Mỹ có mấy tháng làm đ– gì quên được tiếng Việt. Chỉ lõm bõm mấy chữ tiếng Anh nhặt trong tự điển ra lại điệu. Ăn phở vẫn còn nhớ đòi thêm hành trần với nước béo thì anh đừng có lên giọng quên tiếng Việt với chúng tôi”. Nhưng sau đó tôi thấy không hẳn như vậy.

Trong ngày tôi thấy thỉnh thoảng Trụ lại cười. Hỏi thì Trụ cho biết là đang nghĩ tới câu nói của T. Dần dần tôi nhận ra là Trụ để tâm nếu không hoàn toàn thì cũng nhiều về câu nói của T hơn là sự lú lẫn của ông sĩ quan. Trong cách thức riêng của Bùi Nhữ Trụ, Trụ để lộ sự thán phục của mình về sự nhanh trí, giọng lưỡi bén nhọn và khả năng chơi chữ của T và gần như không còn bận tâm với cái nguyên cớ khích động phản ứng của T. Mấy ngày sau gặp lại vị sĩ quan này, Trụ vẫn chào hỏi và tôi không thấy có gì trong cử chỉ của Trụ khác hơn bình thường, nghĩa là vẫn lịch sự và nhã nhặn.

Tôi nhớ sự lịch thiệp, khoáng đạt trong tánh tình của Trụ và Liệu. Tôi nhớ tiếc sâu xa sự hiện diện của Trụ và Liệu, sự hiện diện lúc nào cũng mang đến niềm vui và sự thoải mái cho những người chung quanh. Tôi cảm thấy rất hân hạnh được quen biết hai bạn, rất vinh dự đã được là bạn của hai bạn, và sẽ mãi mãi vẫn nhớ hai bạn trong tình cảm đó.

Luật Sư JOHN P. LÊ PHONG

MỘT ÂM ĐIỆU BUỒN

MỘT ÂM ĐIỆU BUỒN

Nhạc Việt Nam có thể nói hầu hết là tình ca với một số rất ít nhạc sĩ như Hùng Lân và nhất là Trọng Khương đã sáng tác được một số nhạc với thể điệu nhanh mạnh và vui. Và tình ca Việt Nam thi rất là đa dạng. Nhưng bất cứ cố gắng sắp loại nào không những sẽ gặp nhiều khó khăn mà còn vô ích vì chắc chắn người tới sau sẽ loại bỏ sự sắp loại của người đi trước. Vì vậy khi tôi viết về một số nhạc sĩ, sự “sắp loại” sẽ rất là lỏng lẻo mà mục đích chỉ là để giúp cho ý tưởng của tôi được trôi chảy để dẫn tới những gì tôi muốn viết về Lam Phương.

Chẳng hạn, tôi để Ngọc Bích, Nguyễn Hiền và Lê Trọng Nguyễn vào nhóm “lãn mạn kinh niên”. Nhạc của Ngọc Bích, một người viết tình ca nhưng không có một chữ “anh” hoặc “em” nào trong ca khúc:

                                                 Ngày nào một giấc mơ,                                                                                    đâu những đêm trăng mờ ai ngóng chờ

làm cho người nghe nghĩ rằng Ngọc Bích có một tâm hồn lúc nào cũng mơ mộng, lúc nào cũng man mác, thơ thẩn, có tình nhưng tình không tập trung. “Ngày nào” mà không biết ngày nào, tức là bất cứ ngày nào chàng đều “mơ”, và cũng không biêt “ai” đang chờ Ngọc Bích (hay Ngọc Bích đang chờ ai).

Hoặc như Nguyễn Hiền/Lê Trọng Nguyễn:

                                      Lá rơi bên thềm gợi nhớ thương

Chỉ cần một cái lá rơi là xúc cảm của hai nhạc sĩ tuông trào, và man mác nhớ thương. Không hiểu lúc đó anh Nguyễn đã quen chị Gina Nga Nguyễn hay chưa (tôi kêu anh Nguyễn bằng anh vì chị Nga là một người bạn. Khi còn sống, anh coi vợ tôi như em), nhưng người nghe không nghĩ anh hay NH có một đối tượng cụ thể khi viết Lá Rơi Bên Thềm. Sợi dây xúc cảm của hai ông như luôn luôn sẵn sàng rung động. Cái ấn tượng của thính giả là, không nhất thiết là một bóng hồng, một chiếc lá rơi đủ để gây cho hai ông niềm xúc cảm lai láng và yêu thương – yêu thương cả vũ trụ. Riêng về anh Nguyễn, có thể trong hoàn cảnh riêng của mình, anh cảm thấy có quá nhiều điều để thương, để xót xa. Và rất có thể, anh cũng thương cho thân phận của chính mình:

                                                           Còn gì nữa,                                                                                                                   tuổi vàng qua mất rồi

Phần lớn nhạc tình là nhạc buồn. Cũng dễ hiểu thôi. Khi đang vui, không ai chong đèn ngồi viết tâm sự của mình. Trần Thiện Thanh là một trường hợp độc đáo. Ông viết rất là nhiều nhạc tình mà không có một bản nhạc nào mang chất buồn, ngay cả khi người yêu hẹn mà không đến.

Có thể TTT thể hiện cái sinh lực của mình qua âm nhạc nhiều hơn là xúc cảm. Tôi có dịp được xem ông trình diễn ở Orange County một thời gian ngắn trước khi ông mất. Ông có cái mạnh dạn, hoạt bát và tự tin của một ngôi sao trên sân khấu. Nhạc của TTT như một chuyện kể và kể một cách năng động. Như đã nói ở trên, TTT không buồn, hay ít nhất “giòng nhạc” của ông không buồn.

Giòng nhạc buồn hoặc âm nhạc thể hiện một tâm sự buồn là thể loại được các nhạc sĩ dùng nhiều nhất từ “Nhạc Tiền Chiến” cho tới nhạc sáng tác ở hải ngoại. Từ buồn “đứt ruột” như Đặng Thế Phong:

                                   Ai nức nở thương đời,                                                                                                             chân buông mau                                                                                                               dương thế bao la sầu 

hoặc nhẹ nhàng, chậm rải như Anh Việt Thu

                          Trời làm cho mưa bay giăng giăng,                                                                                        mây tím dệt thành sầu

cho tới “bình dân” như Đỗ Lễ:

                                            Thôi nín đi em …

Qua một số nhạc phẩm của ông khi còn ở Việt Nam, tôi nghĩ Lam Phương là một trong số đông nhạc sĩ dùng đầu óc để viết nhạc. Họ nghĩ trước là phải viết về cái gì, chọn một đề tài rồi dùng năng khiếu âm nhạc để chọn giai điệu và sắp xếp các notes nhạc. Nhưng tôi thấy, không giống giới văn sĩ, công chúng không có cái thích thú đi tìm biết, chưa nói tới tìm hiểu, người nhạc sĩ là ai. Bao nhiêu người nghe “Hai Vì Sao Lạc”;  bao nhiêu người yêu thích. Bao nhiêu người biết tới Hoàng Oanh qua nhạc phẩm này. Nhưng mấy ai biết Anh Việt Thu, cao thấp già trẻ như thế nào? Chính vì vậy, nhạc phẩm của một nhạc sĩ đôi khi cho ta một ấn tượng hay “chân dung” sai về người nghệ sĩ. Đó là ấn tượng lúc đầu của tôi về LP.

Vì không đến để được dự cái party mừng sinh nhật của LP hôm 26 tháng 3 năm 2017, thành t́hử cho tới nay, tôi chỉ mới được gặp LP có một lần – hơn nửa thế kỷ về trước ở Saigòn. Đúng ra không phải “gặp” mà là “thấy”.

Tôi không nhớ rõ là ở một phòng trà hay là ở một đại nhạc hội. Đi nghe nhạc là để chiêm ngưỡng ca sĩ và nghe ca sĩ hát, it ai để ý tới ban nhạc hay các nhạc công. Chỗ tôi ngồi sát giàn nhạc. Lúc đầu tôi thấy một hai cô ca sĩ đến gần một trong những người nhạc công nói chuyện có vẻ thân mật. Tôi bắt đầu tò mò, có thể có chút ghanh tỵ, khi thấy quá nhiều ca sĩ đến chào hỏi anh nhạc công này và sự thân mật của họ rất tự nhiên và chân thật. Sau đó tôi mới biết ra ông “nhạc công” này là nhạc sĩ LP. Một lần khác tôi có để ý tới tên LP khi báo chí ở Việt Nam đăng về một cuộc “nhạc chiến” bùng nổ giữa ông và, nếu tôi nhớ không lầm, Hoàng Thi Thơ.

Mức độ chú ý của tôi về LP chỉ tới đó – cho tới khi tôi được nghe bản “Một Mình”, ở Mỹ. Đây là một LP hoàn toàn khác hẳn đối với tôi. Một LP viết nhạc bằng trái tim, và thêm nữa, như người Mỹ thường hay nói, ông mang trái tim của ông trên tay áo.

Lần đầu tiên nghe “Một Mình”, tôi cứ nghe đi nghe lại mãi. Cái buồn trong bản nhạc sâu sắc và thấm thía. Mấy ngày trước 26 tháng 3, tôi nói đùa (không hẳn 100%) với vợ tôi là khi gặp LP tôi phải nói cảm ơn vì LP đã sáng tác Một Mình sau khi tôi đã học hành thi cử xong. Lúc đi học, khi còn ở đậu ở Việt Nam, hoặc trong các cư xá khi du học ở Mỹ, nếu cứ nghe mãi:

                                    Sớm mai thức giâc nhìn quanh một mình

hoặc:

                                   Sáng trưa khuya tối nhìn quanh một mình

không chắc tôi đã học được hoặc không chắc thi đậu, vì nó khơi dậy cái tâm sự của chính mình.

Âm điệu và lời nhạc làm cho người nghe cảm thấy đây không phải là một sáng tác, tức là “đặt” ra, mà là sự bộc lộ chia xẻ với mọi người một niềm đau sâu xa, một tâm trạng riêng tư thầm kín của ông. Đúng ra là nhiều hơn một niềm đau, nhiều hơn một tan vỡ:

                                                      Tình duyên trăm mối,                                                                                                              một kiếp đa đoan                                                                                               Cố tìm tình chồng chất ngồn ngang

một tiếng khóc thầm của một tâm hồn đầy tình cảm, chân thật và tin yêu. Một tiếng khóc mà ông không còn ngần ngại muốn che dấu nữa, mà buông thả bộc lộ cho bất cứ ai muốn nghe.

Ông có oán trách:

                                              Còn bao lâu nữa khi ta bạc đầu,                                                                                                 tình cờ gặp nhau,                                                                                                               ngỡ ngàng nhìn nhau,                                                                                                      để rồi còn gì nữa cho nhau

như thể muốn nói: “Đeo đuổi điều gì? Có đáng để phải đối mặt với sự ngỡ ngàng này hay không?”, nhưng ông không sỗ sàng, không giận dữ, mà chịu đựng:

                                         Chỉ vì đời mình chưa có bình minh

công khai tâm sự là ông chưa bao giờ có hạnh phúc. Một thú nhận làm cho người nghe phải ứa nước mắt.

Có thể chữ “chưa” trong câu kết của bản nhạc biểu lộ một khía cạnh lạc quan trong cá tánh của LP là sự đau khổ, tuy nặng nề, nhưng không tiêu hủy tia hy vọng trong LP là một ngày nào đó ông sẽ thấy bình minh, sẽ tìm được hạnh phúc.

Đôi khi tôi nghĩ, và rất muốn tin, là có thể, nghệ thuật của LP cao, đủ sức sáng tạo ra một nhạc phẩm, “Một Mình”, gây nhiều xúc động cho người nghe mà không liên quan gì tới đời sống riêng tư của ông.

Luật Sư JOHN P. LE PHONG, ESQ.                                                                      (2017)

 

NEW ORLEANS

Chúng tôi rất hồ hỡi trước khi đi New Orleans. Mục đích là để dự lễ hội Mardi Gras nhưng cũng có mong đợi xem New Orleans “Tây” như thế nào. Hy vọng cái chất Tây ở đó làm sống lại những cảm giác và kỷ niệm xưa khi còn ỡ Việt Nam cắp sách tới trường học tiếng Tây “je vais vous dire ce que me rappellent tous les ans…”, nghe nhạc Tây “Tous Les Garcons et Les Filles de mon age…”, “Tant que l’amour inondera mes matins…”. Ngày đầu tiên tới New Orleans, chúng tôi đi tìm ngay cái “Tây” dễ tìm nhất: cafe au lait. Ở đâu? Dĩ nhiên là ở Cafe du Monde.

Nhưng không được như ý. Suốt thời gian ở New Orleans, tôi thấy New Orleans không có vẻ gì là “Tây” hết. Đây dĩ nhiên là nhận định chủ quan cùa tôi (mới chỉ ở New Orleans có bảy ngày). Cafe au Lait ở Cafe du Monde uống giống cafe Mỹ, không giống như ở Việt Nam. Không giống (và ngon như) ngay cả cafe pha với sữa đặc ông Thọ tôi thường uống ở nhà.

Ngay cả cái tên của thành phố rất Tây “Orleans” cũng gần như ít được xử dụng. New Orleans tự đặt cho mình một cái tên mới “NOLA” (viết tắt của ba chữ New Orleans, Louisiana). Rất nhiều tên đường bẳng tiếng Pháp: Dauphine, Canal, Bourbon, Bienville Iberville v.v… nhưng không có nghĩa NOLA là “Tây”. California có nhiều tên đường tiếng Spanish nhưng Califonria không phải là một tiểu bang Spanish. Mọi người đều biết là đi tới đâu văn hóa Anglo Saxon cứ muốn lấn lướt (nhưng không tiêu diệt) những văn hóa khác. Người Pháp nếu không đấu tranh quyết liệt qua bao nhiêu năm, Canada có lẽ đã không có một Quebec đẹp và sống động như Quebec ngày nay.

Một thất vọng khác, chỉ đối với tôi thôi, là đi thăm vùng sình lầy của Louisiana. Tàu máy chạy giữa gìòng sông bề ngang bằng nửa sông Cửu Long. Suốt chuyến đi, hai giờ, người hướng dẫn chỉ tìm thấy có một con cá sấu. Chính tôi thì không thấy. Khi tôi hỏi, người hướng dẫn chỉ tay về một gốc cây “there there”. Tôi phải dùng óc tưởng tượng để hình dung một con tắc kè (nhỏ như vậy) nằm sát gốc cây, màu da tiệp với màu cây gỗ mục và bùn.

Lại “there there”, có ba con rùa nhỏ bằng bàn tay chen nhau nằm trên một khúc cây nhô ra khỏi mặt nước. Có lẽ là rùa nhập cảng vì mình quen với kích thước to lớn về mọi sự ở xứ này: cây Sequoia, trái dâu (strawberry), xe Tahoe SUV v.v… Giống gì cũng to lớn, sao cá sấu và rùa ở chỗ này lại nhỏ quá vậy?

Điểm nổi bật (highlight), và cũng là cực điểm (climax) của chuyến đi là lúc tàu đậu lại chỗ sáu con heo rừng. Nhưng tôi cảm thấy có cái gì không ổn. Tôi hỏi người hướng dẫn đây là heo rừng (boar) hay heo (pig). Qua cái cách chậm chạp và lừng khừng trong câu trả lời “boar”, tôi cảm thấy phải hỏi tiếp: heo rừng có thể sống dưới nước được sao? Không có câu trả lời, có thể ông này bực mình vì câu hỏi của tôi có lẽ để lộ sự thiếu hiểu biết của tôi chăng? Vì vậy tôi hỏi tiếp, sao heo rừng này lại không có răng nanh? “Đây là con cái cho nên răng nanh nhỏ hơn con đực” Câu trả lời không được thoả đáng đối với tôi. Cả sáu con đểu là cái hết hay sao? Khi Mai, vợ tôi đang cho một con heo rừng ăn, nó có hai màu đen xám và trắng và cách chúng tôi khoảng hai tới ba feet. Khi nhận đồ ăn, nó há mồm lớn cho nên tôi thấy tất cả răng của nó, nhỏ và rất đều. Tôi chỉ biết heo rừng qua National Geographic, nhưng chưa bao giờ thấy nó có hai màu và chưa bao giờ thấy nó không có răng nanh.  Những con heo này có vẻ rất thuần thục (domesticated) và sáng sủa.

Cái swamp (sình lầy) này không đáp ứng ước vọng của tôi, đã tưởng là được đi thăm viếng lãnh thổ của the Duck Dynasty. Nó không có ngay cả cái khung cảnh tĩnh mịch u ám và rùng mình của rừng tràm (chàm) Châu Đốc; sự vắng vẻ ở đó làm nổi bật màu trắng của con cò qua mấy hàng cây và sự tĩnh mịch u ám làm cho tiếng kêu của con hạt mang một âm thanh độc đáo của rừng sâu.

Mardi Gras 5 tháng 3, 2019 là ngày đại hội. Diễn hành khắp nơi nhưng chúng tôi không tham dự diễn hành. Ai đã đi dự Rose Parade ở Pasadena rồi thì it có muốn coi diễn hành ở những nơi khác. Chúng tôi xuống phố chen lấn như mọi người và với mọi người. Khi về lại khách sạn tôi tự hỏi do đâu mà chúng tôi cảm thấy hồ hỡi và hễ hã suốt ngày như vậy? Có lẽ là đám đông. Điều quan trọng là trong khoảng thời gian đó chúng tôi quên hết sự đời và quét sạch mọi ưu tư. Rejuvenated.

Một số hình ảnh đã được posted trước.

Luật Sư John P. Le Phong.

A MARDI GRAS VISIT TO NEW ORLEANS

Traveling is exploring and discovering. And discovering is never boring even if we are a little disappointed. We discovered that New Orleans, let alone Louisiana, is not French, even though we did find some hybrid “cultural” aspects here and there.

Start with the street names. It is called the “French Quarter” so all the streets names in the quarter must be French. When I first saw Dauphine Street, I almost jumped up saying to myself “hey here is something I know: it was the name of a city in Gigi”. Turned out there was no such city in Gigi, only Deauville and Trouville. Even in the French Quarter, the dominant and imposing structures are all American (meaning connected to English). Everyone speaks English. New Orleans even skips its French name and refers to itself as NOLA (New Orleans, Louisiana).

We wanted to visit the area of NOLA affected by the Katrina hurricane. We missed the bus and decided not to go when in a restaurant, we heard that residents of the area were unhappy with the tourists swarming the area. We took a tour to see the swamp instead, in hope of seeing something similar to Duck Dynasty Land and its characters.

We had no such luck. We cruised in a motorized flat bottomed boat up and down a large river, seeing one crocodile, so small and so blended in with the surroundings that I myself could not see it.  And three small turtles. The supposed highlight and climactic end of the trip was the boars. Six of them. Mai was thrilled with feeding one of the boars. It was bi-colored, white and dark grey, small and even-toothed. It was so domesticated and harmless that I was not sure they were boars. I probably have missed bi-colored boars and boars without fangs or tusks on National Geographic videos, even though I watched them a lot.

In preparation for the trip, I had bought a black beret and a red foulard for me, a red beret and a brown foulard for my wife. I planned to wrap the red foulard around my neck, roll up my white shirt sleeves above the elbow, put on my beret and sing a French song sous la fenestre somewhere (my imagination of course). Or at least walk around New Orleans with those outfits like everybody else. It was just that nobody else did.

On the official Mardi Gras day, I said to myself “f…k everybody else, I will wear my beret and red foulard and be a Frenchman for a day”. I had to abandon the rolled up sleeves though, as it was terribly cold.

We kept walking around and everywhere, passing through French Market twice, walking by Café du Monde (we had coffee there twice) and on Decatur Street four times, Frenchmen Street once (only because we did not want to come back), by St Louis Church three times (we did go inside the church). The sheer size of the crowd was exciting and energizing. We did not feel tired until late in the evening when we were already back in the hotel.

A few pictures have been posted.

John P. Le Phong, Esq.

 

IN CELEBRATION OF VALENTINE DAY

IN CELEBRATION OF VALENTINE DAY 

Mai and I celebrated Valentine Day just like everyone else in the U.S. Even though it rained hard in the Bay Area, we had a very good time. Dim sum lunch with our son, aunts and cousins in San Jose; a night out meeting and greeting new friends, five course dinner, singing (by professionals including two of our cousins – not us), and dancing.

The next day, Sunday, we got together with Titi , daughter of an old friend, in San Francisco.

THANK YOU TITI FOR SPENDING YOUR PRECIOUS                                         TIME BEING WITH US

Having lunch at the Slanted Door – on the fancy menu, the one item we liked best (surprise, surprise) was “pho”, very simple with just some choice meat, large noodle and its exceptionally tasty juice. The combination just made you want to eat more, especially when it rained outside the window.

On February 14, a Roman emperor executed a Christian martyr named Valentine. Incredibly, he executed another martyr, a few years later, also named Valentine and also on February 14. That explains February 14 the St. Valentine Day.

But how and whose idea was that to transform a gruesome day like that into a day of romance and love?

Before the Christian tradition of celebrating St. Valentine Day on February 14, the ancient Romans had celebrated something called the Feast of Lupercalia on February 15. It was an occasion for men (Roman men) to get drunk and run around naked doing crazy things like killing dogs and used their hides to whip women. Believe it or not, women (Roman women) were just all too willing to be accommodating: they got in line to take turn for the men to hit them so that they would be more fertile. The Catholic Church conveniently combined both events into one Valentine Day, and naturally February 14 was chosen.

But, that was not romance.

We can’t help suspecting that commercialism may have something to do with the tremendous success of romanticizing Valentine Day.

Regardless, the Church may commemorate the martyrs on this day, but the mass, Catholics and pagans alike, just want to have a good time. And while doing it, we contribute hugely to the economy.

What a beautiful day!

JOHN P. LE PHONG, ESQ.                                                                                    Corona, CA Feb. 20, 2019

PHIẾM LUẬN VỀ MƯA (và Một Số Đề Tài Khác Nữa)

PHIẾM LUẬN VỀ MƯA ̣                                                                                                (và một số đề tài khác nữa)

Việt Nam mưa nắng hai mùa. Mưa luôn sáu tháng phải nói là nhiều, quá nhiều. Trong tiếng Việt vì vậy có rất nhiều trạng từ và tĩnh từ để chỉ các lọai mưa khác nhau: mưa dầm, mưa dầm dề, mưa lâm râm (hoặc lâm dâm ), mưa phùn, mưa ngâu, mưa rả rích, mưa lây phây, mưa lũ, mưa rào v.v…

Vì vậy tôi không gặp khó khăn khi diễn tả cái mưa ở niền Nam California trong mấy tháng vừa qua: mưa dầm dề ray rức triền miên. Tôi ở đây khá lâu nhưng chưa bao giờ thấy mưa như vậy. Cứ vài ngày lại nhận được lệnh di tản trên iphone (không phải cho chúng tôi – vùng tôi không bị). Hôm nay có một hiện tượng mới mà ở Việt Nam tôi chưa bao giờ thấy: mưa tuyết ở Corona. Trong không gian xám, cả ngàn sợi chỉ trắng treo trên không trung, chỉ tan thành nước khi chạm đất.

Tuy xa Việt Nam đã lâu, nhưng trận mưa kỳ này, thỉnh thoảng dầm dề thỉnh thoảng rỉ rả, gió tạc, sự ướt át, “đường trơn ướt tiêu điều” mang lại không ít những kỷ niệm cũ của những ngày xưa, tưởng là xa lắm, tưởng đã quên.

Mưa dễ gây xúc cảm. Xúc cảm kích thích trí tưởng tượng, và trí tưởng tượng là mầm giống của sự sáng tạo. Nhưng với cái mưa Việt Nam, triền miên qua cả ngàn năm, con người không khỏi cảm thấy bất lực.

Tổ tiên chúng ta không có phương tiện hoặc dụng cụ nào khác để mưu sinh ngoài hai tay và hai chân. Ngay cả dép cũng không có. Đi chân không gánh nặng, hai ngón chân cái (ngón chỉ) châu vào nhau cho nên giống Lạc Việt (tổ tiên của chúng ta) có tên là Giao Chỉ. Trời mưa như trút nhưng che mưa bằng lá. Đi gánh lúa, đi thi cử, đi cưới vợ và đón vợ về nhà đều phải đi bộ. Sinh lực chỉ vừa đủ để chống đỡ những trở lực thiên nhiên để sinh tồn, còn đâu để tiếp liệu cho óc tưởng tượng. Ngay cả khi muốn và cố gắng sáng tạo, thành quả thường là sơ đẳng và thô thiển: nhà tranh vách đất và nền đất sét; xây cầu bằng tre (cắm nạng bằng thanh tre hình chữ X xuống lòng sông rồi để một cây tre khác trên cái nạng); tổ tiên chúng ta có lẽ chưa bao giờ nghĩ tới đừng nói chi đến việc xây đường sá.

Vì hoàn cảnh xã hội (chiến tranh liên tục), vì mặc cảm của tổ tiên (bị đuổi ra khỏi Động Đình Hồ) hay vì những lý do khác, dân Việt hay trầm tư. Khi mưa đến, cái bẩm sinh trầm tư đó có lẫn lộn với buồn. Không buồn ít cũng buồn nhiều. Qua Mỹ đã 50 năm rồi, tôi vẫn chưa bỏ được sự trầm tư pha chút buồn khi nhìn mưa và nghe tiếng mưa.

Khi buồn và muốn đi tìm nơi nương náu hoặc sự thông cảm, không đâu bằng “Đoạn Trường Tân Thanh”[i]:

                                        Buồn Trông Cửa Bể Chiều Hôm                                                                          Thuyền Ai Thấp Thoáng Cánh Buờm Xa Xa.

Một cái buồn thật là nhẹ nhàng, một cái buồn thật là thanh cao. Tuy trôi nổi truân chuyên, trôi nổi trong cuộc đời và trôi nổi trong ước vọng, nhưng thay vì mưa bão biến xúc cảm thành giận dữ nổ tung ra, xúc cảm trong Đoạn Trường Tân Thanh,  vẫn giữ được sự từ ngằn đắng đo. Có lẽ muốn nổi giận, phải có một mức độ sinh lực cần và đủ. Kiều rõ ràng là không có.

                                    Buồn Trông Ngọn Nước Mới Sa                                                                                   Hoa Trôi Man Mác Biết Là Về Đâu.

Cảm nhận cảnh vật từ trong lòng của một tâm hồn cao thượng. Nghệ thuật của Nguyễn Du một cách tuyệt diệu đã đưa cái đẹp và sự trong sáng vào tâm hồn của một người đàn bà sa cơ thất thế, đang rơi vào trong vũng lầy.

Văn chương Việt Nam tôi, đúng hay sai, không thấy viết nhiều về mưa hoặc xúc cảm liên quan tới mưa, một điều đáng ngạc nhiên cho một xứ nhiều mưa. Có lẽ khi có mưa, ta hay trầm ngâm và suy tư về những vấn đề khác. Trong thơ “tiền chiến” (nhạc sĩ Tô Vũ đã đặt vấn đề về tên gọi này), có những viên ngọc quý như “Buồn Đêm Mưa” của Huy Cận. Nguyên cả bài là trân châu, nhưng chỉ xin trích một vài câu:

                                      Tai Nương Nước Giọt Mái Nhà                                                                         Nghe Trời Nằng Nặng, Nghe Ta Buồn Buồn.                                                                             Nghe Đi Rời Rạc Trong Hồn                                                                              Những Chân Xa Vắng Dặm Mòn Lẻ Loi …                                                                                Rơi Rơi … Dìu Dịu Rơi Rơi …                                                                                       Trăm Muôn Giọt Lệ Nối Lời Vu Vơ … 

Sau hơn 100 năm, Huy Cận như bồi đắp triển khai thêm cái “giòng buồn khi nghe mưa” đã đưa vào thơ Việt Nam bỡi thi hào Nguyễn Du qua ĐTTT.

Trong âm nhạc, mưa như được chú ý nhiều hơn và âm điệu phong phú hơn. Từ mưa với sinh lực, mưa “bình thảng”, mưa “thắt ruột”, cho tới mưa “mộc mạc”… Nhiều bản nhạc có chữ “mưa” trong đó, nhưng mưa chỉ là phụ thuộc. Đối với Nguyễn Văn Đông:

                                      Chiều Mưa Biên Giới Anh Đi Về Đâu                                                                           Sao Còn Đứng Ngóng Nơi Giang Đầu 

“đứng ngóng” là chủ đề của bài hát. Còn anh đang đứng dưới mưa ở biên giới, ở giang đầu hay ở góc Moran và Bolsa nhớ tới em tình cảm của anh không khác nhau gì hết. Nhận xét tương tự có thể áp dụng vào một số bài hát khác có “mưa” trong đó.

Nhưng khi nghe “Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa”, chúng ta thấy mưa không phải chỉ là bối cảnh mà là một yếu tố chính dính liền với chủ đề của bản nhạc và xúc cảm của người nhạc sĩ. Nếu em đến thăm anh khi trời nắng cháy mồ hôi nhễ nhại, thì mắt huyền của em sau khi đi xa trong nắng như vậy khó mà còn giữ được sự trìu mến, và “sưởi ấm lòng anh” là một điều rất khó cho em.

Cái buồn của Châu Kỳ khi nghe mưa, cũng hiền hòa như Tô Vũ mà còn êm ái và nhịp nhàng hơn trong “Mưa Rơi”:

                                   Mưa Rơi … Màn Đêm Xuống Rồi
Mây
Sầu Khắp Nơi, Thương Nhớ Đầy Vơi                                                                   Bâng Khuâng Nghe Tiếng Tơ Dịu Dàng
Nhìn
Lá a Theo Hoa Tàn                                                                                             Tiếc Than Phút Giây Lìa Tan. 
Ai
Đi NXóa Bao Lời Thề.
Thuyền
Theo Nước Trôi Không V
Thấu
Cùng Lòng Ai Não N 

Có lẽ ảnh hưởng của Ưng Lang làm nhẹ cái buồn-vì-mưa của Châu Kỳ vì trong “Xin Trời Thôi Mưa” ông viết một mình, cài buồn cùa ông ray rức và não nuột như Hoàng Lang và Thùy Linh trong “Một Chiều Mưa”:

                                     Một Chiều Mưa,  Một Chiều Mưa                                                                                        Một Chiều Mưa, Mưa Rơi                                                                                  Lạnh Lùng Quá Buốt Giá Lẻ Loi Riêng Mình Ta …

Lẻ loi riêng mình ta! Hoàng Lan và Thùy Linh than vãn về sự lẻ loi của mình.

Nhưng khi trời mưa, có khi mình thích được ngồi một mình.

Luật Sư JOHN P. LE PHONG

Corona CA, Ngày 22 Tháng Hai, Năm 2019.

[i] Nhiều khi chúng ta cứ vắn tắt kêu là Truyện Kiều , nhưng “Đoạn Trường Tân Thanh” là kiệt tác văn chương của Tiên Điền Nguyễn Du. Cụ mượn Vương Thuý Kiều làm nhân vật chính cho ĐTTT từ một truyện ngắn rất thô sơ của Dư Hoài bên Trung Hoa. Và ngay cốt truyện của ĐTTT cụ Nguyễn Du đã mượn từ “Kim Vân Kiều Truyện” không thay đổi của Thanh Tâm Tài Nhân. Nhưng gọi ĐTTT là Truyện Kiều thì không khác gì cứ tiếp tục gọi là “Hòn Đá” sau khi hòn đá đã được khắc thành tượng Venus de Milo. Kiều, và ngay cả Từ Hải, qua ngòi bút của Nguyễn Du không còn là nhân vật tầm thường; dầu cho đời sống vật ngã bao nhiêu lần, vẫn giữ được một tấm lòng tốt và một tâm hồn cao thượng.

TRỊNH CÔNG SƠN

TRỊNH CÔNG SƠN

        Khi còn học trung học, tôi giống như cả triệu học sinh trung học Việt Nam thời đó khi vô tiệm sách đi ra là mua một bản nhạc. Gần như thói quen. Vì vậy khi mua “Ướt Mi”, tôi không có lý do gì khác hơn là vì tôi chưa có. Trước đó tôi chưa bao giờ nghe tên người nhạc sĩ, Trịnh Công Sơn. Và nhạc điệu của bản nhạc, thành thật mà nói, không nổi bật mấy. Chỉ có hai điều làm tôi chú ý, mái tóc chải bồng trong bức ảnh là một kiểu tóc ông anh tôi rất thích và Trịnh Công Sơn dùng tên thật, một điều hơi hiếm trong giới văn thi nhạc sĩ Việt Nam thời đó.

Không có một dấu hiệu gì cho thấy tôi đang chứng kiến sự thành hình của một thiên tài âm nhạc.

Hơn thế nữa, TCS là một thiên tài về tiếng Việt.

Ông chứng minh cho thế hệ của ông và về sau cái đẹp và sự phong phú của tiếng Việt. Sau TCS, người Việt thấy rõ Việt ngữ đủ sức diễn tả những uẩn khúc sâu sắc nhất của xúc cảm con người. Qua TCS, Việt ngữ trở nên đẹp và “sang”. Qua Việt ngữ trau chuốt bỡi TCS, cá tính của người Việt hay Việt tính đã được biểu hiện một cách đáng kính và đáng yêu.

Tôi còn nhớ một vị giáo sư trung học, giáo sư Pháp văn, thuyết giảng tôi không còn nhớ rõ một bài thơ của một thi sĩ Pháp nào đó. Đi qua đi lại trước bảng đen, đắm chìm trong sự thán phục Pháp ngữ, ông ngâm nga bài thơ đang giảng. Bỗng nhiên ông hỏi là chúng tôi có biết bản Serenata hay không. Tôi còn nhớ là không có ai giơ tay. Và tôi còn nhớ nhà giáo này trích dẫn sáu chữ trong bản nhạc này “un sourire en tes grand yeux” rồi thao thao bất tuyệt cho đến gần cuối giờ về sự phong phú tinh tế của Pháp ngữ.

Ông so sánh hai ngôn ngữ và kết luận ngay tại chỗ là chữ “cười” trong tiếng Việt thô thiển chỉ giới hạn vào môi miệng hoặc trong văn chương thô tục. Còn un sourire en tes grand yeux cho thấy sự cao siêu của tiếng Pháp trong cách diễn tả một tình tự sâu xa nhưng kín đáo. Và khi nhà giáo này nói “tôi không biết làm thế nào để cho các anh các chị thấu đáo được”, coi chúng tôi như ếch ngồi đáy giếng thì phía dưới có người nói là người Việt cũng có dùng “nụ cười trong ánh mắt” vậy. Nhà giáo gạt ngang bảo rằng người Việt mình chỉ biết mô phỏng dịch theo, nhưng “nụ cười trong ánh mắt” không thể xúc tích như “un sourire en tes grand yeux” được.

Khi vào đại học, sự giảng dạy nói trên (tiếng Việt nghèo) của thầy càng được nhấn mạnh thêm bỡi ước vọng muốn biết chút ít về nước Pháp nói riêng hay “Tây” nói chung. Muốn tỏ ra có văn hóa, nói chuyện phải chêm tiếng tây. Anh nói tiếng Việt càng bập bẹ chừng nào, văn hóa anh càng cao hơn chừng đó. Vì vậy trời mùa thu phải “Paris” không được Ba Lê. Đại học tôi học có một vị giảng sư nổi tiếng về việc bắt bẻ sinh viên về tội phát âm ngoại ngữ không đúng giọng, cái mặc cảm thiếu văn hóa càng đè tôi nặng hơn.

Đáy giếng của tôi càng trở nên thăm thẳm hơn khi tôi đọc một bài viết (hoặc có thể một cuốn sách) của một học giả Việt Nam, một người có lúc được xiển dương là thiên tài. Bài viết bằng tiếng Việt. Tuy nhiên mỗi trang chỉ có vài dòng bằng tiếng Việt, phần còn lại là ngoại ngữ vì vị học giả trích dẫn các tác giả ngoại quốc mà ông đề cập tới nguyên văn bằng ngôn ngữ của tác giả đó. Nếu bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh tôi còn mò mẫm được. Nhưng chỉ sau mấy trang, tôi thấy rõ là vị học giả này cố tình làm khó dễ người đọc vì ông trích dẫn tiếng Đức, tiếng Bồ, và ngay cả tiếng Phạn, mà không thèm phiên dịch. Nghĩa là học giả muốn phô trương cho người đọc thấy ông “giỏi” như thế nào.

Trong hoàn cảnh tiếng Việt ngả nghiêng như vậy, bình dị xuất hiện TCS. TCS ra mắt một cách nhẹ nhàng và tự nhiên như nhạc và lời của ông. Nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng vững chắc, lời nhạc của TCS đã đánh tan cái trào lưu cho rằng tiếng Việt nghèo. Nhạc và lời của TCS đã đi vào tâm hồn người Việt mở rộng cửa, không phải ra, mà vô trong tâm hồn người Việt cho chúng ta thấy cái đẹp bên trong của chính mình và khả năng diễn đạt của tiếng Việt.

TCS đã làm thay đổi quan niệm lệch lạc lâu năm là một người Việt chỉ có “văn hóa” khi nào nói được tiếng ngoại quốc dù chỉ lõm bõm. TCS đâm thủng cái huyền thoại đó.

Ngồi một mình suy tư nặng chĩu về cuộc đời mình?

Ôm Lòng Đêm, Nhìn Vầng Trăng Mới Về

    Mô tả tình tự dân tộc?

                             Người Con Gái Việt Nam Da Vàng                                                                          Yêu Quê Hương Như Yêu Đồng Lúa Chín

Điêu tàn của chiến tranh?

                          Đàn Bò Vào Thành Phố                                                                                               Không Còn Ai Hỏi Thăm                                                                                               Đàn Bò Tìm Giòng Sông                                                                                               Nhưng Giòng Nước Cạn Khô

Ưu tư về cái chết và sự chia lìa?

                      Những Hẹn Hò Từ Nay Khép Lại                                                                              Thân Nhẹ Nhàng Như Mây                                                                                        ….                                                                                                                                             Đóa Hoa Vàng Mỏng Manh Cuối Trời                                                                     Như Một Lờ Chia Tay

Các sáng tác của ông cho thấy một người Việt có văn hóa thật sự là khi có khả năng diễn đạt bất cứ điều gì anh muốn diễn đạt bằng tiếng Việt, không phải bằng một ngoại ngữ nào khác.

Đối với tôi, hai cống hiến lớn nhất của TCS cho Việt Nam qua các sáng tác của ông là thứ nhất ông vinh danh tiếng Việt là một ngôn ngữ đẹp và đầy khả năng.  Thứ hai ông biểu lộ một tâm hồn tế nhị và trong sáng, một tấm lòng quảng đại và lành mạnh, đặc tính tôi muốn tin là chung của một thế hệ thanh niên Việt Nam (trong đó có tôi) đang phải trải qua một giai đoạn nhiễu nhương:

                        Nhìn Những Mùa Thu Đi                                                                                             Anh Nghe Sầu Lên Trong Nắng                                                                               Và Lá Rụng Ngoài Song                                                                                               Nghe Tên Mình Vào Quên Lãng                                                                               Nghe Tháng Ngày Chết Trong Thu Vàng.

tuyệt vọng, không thấy tương lai, lo âu, khắc khoải nhưng vẫn chững chạc giữ được phong cách. Không hốt hoảng như Huy Cận (“Thôi Đã Tan Rồi Vạn Gót Hương”), không “non” như Xuân Diệu, không “chơi chữ” như Vũ Hoàng Chương. Thế hệ của tôi phải nhớ ơn TCS đã diễn đạt và bày tỏ giùm cho mình.

Người Việt không phải toàn là thô lỗ hoặc nông cạn như cụ Nguyễn Văn Vĩnh đã nhận xét (cái gì cũng cười hì – “Nhăn răng cười một tiếng, mọi việc hết nghiêm trang”). TCS cho thấy một tâm hồn Việt Nam tế nhị, sâu sắc:

                               Đêm Nghe Gió Tự Tình                                                                                                  Đêm Nghe Đất Trở Mình Vì Mưa

và khắc khoải:

                            Môi Nào Hãy Còn Thơm                                                                                              Cho Ta Phơi Cuộc Tình                                                                                                Tóc Nào Hãy Còn Xanh                                                                                                Cho Ta Chút Hồn Nhiên

Lời thơ không cầu kỳ. Mỗi chữ là một từ ngữ bình thường chúng ta dùng hằng ngày nhưng được đặt đúng chỗ. Mỗi chữ được dùng một cách khéo léo không giả tạo. Thiên tài của TCS là ở đó: khả năng diễn tả trung thực sự rung động chân thật của mình qua ngôn ngữ bình thường nhưng đã được TCS cải sửa và đưa lên một bình diện cao hơn.

Tình thương và xúc cảm trong thơ nhạc của TCS mênh mang cả chiều sâu và chiều rộng. Nếu lắng nghe, chúng ta sẽ thấy xúc cảm và tình thương củaTCS không phải chỉ về gái trai, đôi lứa mà rất nhiều về một tâm trạng khác, một đối tượng khác to lớn hơn bao la hơn. TCS dùng “Em”, “Con Gái” hoặc “Ai” như BIỂU TƯỢNG hơn là ĐỐI TƯƠNG của xúc cảm của mình.

                                     Em Đứng Lên Gọi Mưa Vào Hạ                                                                                Từng Cơn Mưa                                                                                                                 Từng Cơn Mưa                                                                                                                 Mưa Thì Thầm Dưới Chân Ngà

    Người nghe có thể thấy rõ TCS không nói về một “em” nào cả. Trong khoảng không gian và thời gian đó, lòng yêu thương của TCS (có thể có chút xót xa, có thể có chút than vãn, nhưng sinh lực chính vẫn là tình thương) tuôn trào ra trong bốn câu thơ trên.

Thương sắc se mà chưa hoặc không cần biết mặt biết tên, chỉ thấy bóng dáng:

                                         Thương Ai Về Xóm Vắng                                                                                             Đêm Nay Thiếu Ánh Trăng                                                                                         Đôi Vai Gầy Ướt Mềm                                                                                                  Người Lạnh Lắm Hay Không

“Ai” đây là thân phận của một thế hệ con gái Việt Nam mà “tôi” (thế hệ con trai) thương một cách tuyệt vọng – tuyệt vọng không phải vì “em” không thương “tôi” nhưng vì “tôi” không đủ sức thương “em”, thương trong nghĩa đủ sức bảo bọc, săn sóc, nâng niu.

Một thế hệ con gái nhìn trước mặt đẹp:

                                 Thương Nụ Cười

Nhìn sau lưng đẹp:

                               Và Mái Tóc Buông Lơi

Nhưng trong cái đẹp đó TCS không thể không nhận ra dấu vết của sự hủy hoại của thời cuộc:

                              Mùa Thu Úa Trên Môi

Một ngày khác, giây phút khác, thương gia đình:

                      Mẹ Ngồi Ru Con Mây Qua Đầu Ghềnh                                                                  Lạy Trời Mưa Tuôn                                                                                                          Lạy Trời Mưa Tuôn Cho Đất Sợi Mềm Hạt Mầm Vun Lên

Thương dân tộc:

                            Giọt Nước Mắt Thương Dân                                                                                       Dân Mình Phận Long Đong

Nhưng lúc nào cũng vương vấn trong tâm hồn TCS có lẽ là thương cho thân phận của một người con trai Việt Nam. Ngay cả khi nói đến một người con gái, hình ảnh đó như đã nói ở trên, chỉ là biểu tượng của tình yêu hơn là đối tượng của tình yêu.

                        Tôi Đã Yêu Em Bao Ngày Nắng                                                                                 Tôi Đã Yêu Em Bao Ngày Mưa                                                                                   Yêu Em Bên Đời Lặng Lẽ

“Tôi” là TCS là thế hệ thanh niên Việt cùng thời với TCS, và khi lắng nghe hết “Trong Nỗi Đau Tình Cờ”, “Em” là một bức tranh to lớn hơn là một người con gái. “Em” là một hình ảnh biểu tượng cho những ước vọng của “Tôi” và “Bao Ngày Nắng”, “Bao Ngày Mưa” là những kỷ niệm đẹp lưu giữ trong tâm tư, không nhất thiết giữa gái trai, trong quãng đời truân chuyên “Tôi” đã đi qua.  Tình yêu của tôi nung nấu. Nhưng sự bất lực trước những trở ngại to lớn khiến cho tôi đứng bên lề: tôi yêu em, tôi yêu cuộc đời với một tình yêu lặng lẽ và thầm kín.

    “Ngôn ngữ ta còn, dân tộc ta còn”. Ngôn ngữ đoàn kết một dân tộc. Điều đó có lẽ đúng. Nhưng không chỉ tồn tại, một dân tộc phải phát triển, tiến bộ. Phải triển khai cái hay cái đẹp của cả một dân tộc để có thể nhận được sự kính trọng của những dân tộc khác. Cái khả năng một dân tộc tự mình vươn lên được cho bằng người hoặc hơn người tôi nghĩ chỉ có thể có được khi trong xã hội các phần tử thật sự kính trọng lẫn nhau. Và tôi nghĩ ngôn ngữ đóng góp một phần rất quan trọng làm cho các phần tử trong xã hội kính trọng lẫn nhau.

Ngôn ngữ có những tinh tế và khác biệt. Người Nhật khi xưng hô với người khác lúc nào cũng dùng chữ “san” để tỏ sự kính trọng đối với ngưới đối diện, và vì vậy sự đối thoại luôn luôn có sự nghiêm trang. Tiếng Anh, nhất là tiếng Mỹ dễ tạo ra sự thân thiện. Một ngôn ngữ thiếu những tinh tế hay những “cơ cấu” giúp cho người dùng diễn đạt dể dàng xúc cảm của mình, sẽ dễ đưa đến nghi kỵ, hiều lầm và xung đột.

Một anh sắp đi xa, lại từ giã người yêu. Chúng ta có thể tưởng tượng nhiều cách thức đối thoại khác nhau:

Anh:    “Sao? Chờ nổi không?”                                                                                    (Một cách hỏi làm cho người nghe không muốn nói nhiều).                    Người Yêu:   “Ừa!”                                                                                                             (Anh muốn hiểu sao thì hiểu).

Một thể loại khác:

Anh:   “Nè, khi tôi không có đây, đừng có léng phéng với ai                                      nghe chưa?”                                                                                                           (một câu hỏi mời gọi một câu trả lời không thân thiện).                          Người Yêu:    “Thôi đi cha đừng có nói bậy. Léng phéng với                                                    ai?”

Hãy nghe đối thoại trong thơ nhạc TCS:

Anh:    “Tình mong manh như nắng, tình còn đầy không em?”

ngôn ngữ giản dị nhưng đẹp, nhẹ nhàng nhưng sâu sắc và chứa đựng một tình cảm thiết tha của một người con trai lịch sự, từ tốn, đầy tư cách.

Người Yêu:     “Tình cho nhau môi ấm, một lần là trăm năm”

không một lời hứa nào làm cho anh sắc se và tin yêu hơn.

Kính trọng dẫn dắt tới kính trọng. Thành tâm khuyến khích thành tâm. Đẹp và độ lượng làm nẩy sinh đẹp và độ lượng ở người khác. Không những ngôn ngữ của TCS đẹp, ông có một tâm hồn trong sáng và một tấm lòng độ lượng đầy yêu thương.

Nhìn quanh Việt Nam, TCS thương yêu mọi sự: ông yêu sự sống, yêu đất, yêu nước, thương cho thân phận con gái, con trai Việt Nam…

                              Cúi Xuống Cúi Xuống Thật Gần                                                                                Cho Tóc Em Bềnh Bồng ….                                                                                          Trên Phút Giây Nhiệm Mầu                                                                                        Hai Mươi Năm Xin Còn Một Sớm Thương Nhau*

Người con trai Việt Nam nào trong thế hệ của tôi khi nghe

                          Gọi Nắng …Trên Vai Em Gầy Đường Xa Áo Bay

mà không cảm thấy như muốn khóc trong lòng vì cái đẹp của câu thơ?

                          Nắng Qua Mắt Buồn Lòng Hoa Bướm Say                                                        Lối Em Đi Về Trời Không Có Mây                                                                            Đường Đi Suốt Mùa Nắng Lên Thắp Đầy

Có tâm hồn nào khoáng đạt hơn? Có văn chương xứ nào hay hơn?

Luật Sư JOHN P. LÊ PHONG                                                                                       Attorney at Law

____________________________________________________________GHI CHÚ :

*Lời ca trích dẫn ở đây từ bài “Cuối Xuống Thật Gần” là theo sự nhớ lại của tôi, hơi khác với lời ca ghi trong cuốn “Trịnh Công Sơn Tuyển Tập Những Bài Ca Không Năm Tháng”.

BA TUẦN Ở VIỆT NAM

LỜI MỞ ĐẦU

    Bài viết dưới đây ghi lại chuyến đi Việt Nam của tôi vào năm 2001, viết vào tháng 9 năm 2001. Người và vật đã thay đổi nhiều cho nên những gì ghi lại trong bài này, tuy chính xác theo nhận xét của tôi vào lúc đó, không còn đúng trong hiện tại. Viết du ký là để ghi lại những nhận xét và tương tác với người và cảnh vật trong hành trình. Và cũng là một hình thức dùng để đánh dấu mốc thời gian và không gian.

BA TUẦN Ở VIỆT NAM

   Tôi được mời đi Việt Nam với tư cách cố vấn luật pháp cho một thương gia. Khi được biết là lộ trình gồm một tuần lễ ở Hà Nội, tôi nhận lời ngay cả trước khi thương lượng về luật sư phí. Chúng tôi sẽ đáp xuống Tân Sơn Nhất, ở lại Thành Phố Hồ Chí Minh một tuần. Tuần lễ cuối cùng chúng tôi ở Hà Nội và từ đó bay về Los Angeles. Tuần lễ ở giữa là của tôi tự do và tùy tiện. Sự sắp đặt đó rất hợp ý tôi.

1.   Sài Gòn.

Sài Gòn – bây giờ là Thành Phố Hồ Chí Minh (TPHCM) – thay đổi, không phải chỉ có tên, mà còn rất nhiều phương diện khác. Sân bay là một. Sự thay đổi ở Tân Sơn Nhất không hẳn là to lớn nhưng ít nhất khu hành khách đến và đi (terminal) đã cải thiện rất nhiều: rộng rãi hơn, có điều hòa không khí, có khu vực bán hàng miễn thuế và nhận thẻ tín dụng, và có “moving tube or tunnel” đưa hành khách từ máy bay vào terminal và ngược lại.

Khi đặt chân xuống Tân Sơn Nhất, tôi đã ở trong môi trường lúc nào cũng có máy lạnh vào khoảng mười lăm giờ: LAX, máy bay, Hồng Kông International, rồi lại máy bay, rồi Tân Sơn Nhất terminal. Vì vậy khi bước qua rào cảng quan thuế ra ngoài terminal, cái nóng cộng với sự ẩm ướt đến một cách đột ngột làm tôi tưởng sắp bịnh.

Một tiến bộ khác là Thành Phố đã bắt đầu cung ứng nhiều phương tiện lưu thông khác nhau. Tuy nhiên với khí hậu này và vì vừa trên máy bay xuống, tôi nghĩ taxi là phương tiện tốt nhất để ra khỏi phi trường để vào thành phố. Trước hết đỡ phải mất thì giờ trả giá. Tùy theo công ty, đồng hồ tiền bắt đầu từ 10,000 đồng hay 14,000 đồng (70 cents tới gần một dollar). Thứ hai, taxi có máy lạnh. Bao nhiêu đó đã đáng giá rồi.

Khi di du lịch, tôi thường không muốn chuẩn bị quá đầy đủ. “Tự nhiên” hoặc “không định trước” là một phần quan trọng tạo hứng thú trong khi đi du lịch. Nhưng không chuẩn bị đầy đủ nhiều khi gây phiền toái và tốn kém tiền bạc. Vì không giữ chỗ trước, tôi nghe lời ông tài và chọn cái khách sạn gần Chợ Bến Thành. Ra vẻ “tay trong” và hiểu biết, ông tài cho tôi biết giá là 25 mỹ kim một ngày. Nhưng khi tôi khệ nệ mang hành lý hối hả bước vào lobby để tránh cái ẩm nóng bên ngoài, cô tiếp viên, có thể cũng là chủ khách sạn, nhất định đòi 35 mỹ kim. (Sau này tôi được biết, nếu giữ chỗ trước qua Hà Nội Du Lịch, giá phòng có thể bớt đến 10 mỹ kim). Ðây chỉ là một việc nhỏ nhưng có thể làm mất vui.

Khách sạn thuộc loại mini nhưng mới và đầy đủ tiện nghi. Có thang máy nhưng dành riêng cho khách mà thôi. Nhân viên phải leo cầu thang. Nhưng vì thang máy quá nhỏ, ba người vào là đã thấy chật, tôi chọn leo cầu thang mỗi khi lên xuống trừ lần đi lên khi dọn vào và lần đi xuống khi dọn ra. Phòng thì lại rất rộng rãi và rất sạch sẽ. Có TV và có tủ lạnh. TPHCM có rất nhiều khách sạn đầy đủ tiện nghi như vậy với giá từ 20 tới 30 mỹ kim. Một số khách sạn trên đường Ðề Thám, cũng sạch sẽ nhưng không có máy lạnh, với giá từ 8 tới 10 mỹ kim một ngày.

Chuyến đi này, ngoài cái va li và garment bag, tôi mang theo cái ba lô hay backpack mượn của con tôi. Ba lô có rất nhiều ngăn và tuy trông có vẻ nhỏ nhưng lại có thể chứa rất nhiều đồ đạt vì vậy rất tiện dụng. Tất cả những thứ gì không phải quần áo hoặc giày dép, tôi cho cả vào ba lô và đi đâu cứ cho ba lô lên vai là xong. Khi chuẩn bị cho chuyến đi, tôi có nghĩ tới việc mang mấy gallons nước và vài cuộn giấy đi cầu. Nhưng cuối cùng chỉ một cuộn giấy đi cầu và một chai hai lít nước có thể bỏ vừa vào cái ba lô. Nhưng sự cẩn thận đó trở thành vô ích vì Việt Nam có rất nhiều loại nước lọc đóng chai và gần như tất cả những loại nước ngọt sản xuất bỡi Coca Cola. Nhưng nếu khát nước nên rán đợi đến khi vào thành phố, đừng mua nước ở phi trường. Giá một lon coca cola ở phi trường là một dollar.

Hai thứ khác mà tôi nghĩ cũng không còn cần thiết nữa là thuốc trừ muỗi và sâu bọ, và thuốc tiêu chảy, trừ trường hợp đi về các tỉnh nhỏ hoặc cao nguyên.

Sau khi lấy phòng và sau khi tắm xong, tôi lên giường ráng chợp mắt trước khi đi ăn tối. Chỗ tôi được đưa tới có cái tên rất kêu: Làng Nướng Miền Tây. Chữ “Làng” diễn tả nơi ăn uống này chính xác hơn là “Tiệm” vì nó rất rộng và ngoài trời. Thực đơn đầy những món hấp dẫn nhưng tôi chỉ dám ăn một vài món quen thuộc vì đôi khi tôi bị dị ứng về thức ăn.

Trời mưa trong khi chúng tôi đang ăn. Tuy xa Việt Nam khá lâu, nhưng khi ngồi đây giữa phố Sài Gòn chiều nay, nghe tiếng mưa, lắng nghe âm điệu của mưa, hít thở mùi vị ướt át, trong thoáng chốc tôi như sống lại đời sống cũ, liên tục không đứt đoạn. Tôi vẫn nghĩ mưa ở Việt Nam có một âm điệu và nhịp nhàng khác hẳn những vùng khác và từ thiên cổ đã ăn sâu vào tâm khảm của người Việt và góp phần to lớn vào Việt tính, một tâm hồn dễ xúc cảm (có lẽ vì vậy dễ cải vả và dễ đánh nhau?) và ưa trầm tư.

Tôi được đưa tới nhiều nơi trong Thành Phố HCM. Tên thì rất quen nhưng tôi không nhận ra được nơi chốn. Những nơi như Bình Chánh, Phú Lâm, Thủ Ðức v.v… trước kia hẻo lánh, ít người và không thuộc Sài Gòn, ngày nay trở thành những đơn vị của Thành Phố HCM, một thành phố cũng xô bồ và náo nhiệt như Sài Gòn nhưng lớn hơn và đông đảo hơn nhiều. Một tờ báo ở Hà Nội đăng tải số dân chính thức công bố bỡi cơ quan chính phủ là 5.5 triệu. Nhưng con số ước lượng (bán chính thức) cũng của cơ quan này là bảy triệu người.

Một dân số khổng lồ như vậy dĩ nhiên tạo ra những tệ nạn khó khăn to lớn. Chỉ cần lái xe đi vòng thành phố là những tệ nạn đó hiện ra trước mắt. Nhưng đồng thời sinh lực cũng hiển hiện và tràn đầy. Cái khả năng thu vén và sử dựng sinh lực đó để giải quyết các tệ nạn để phát triển và phát huy, theo tôi nghĩ, là yếu tố chính làm cho New York khác Cairo.

Sau năm ngày, tôi đã sẵn sàng để đi Nha Trang. Bữa ăn tối cuối cùng, tôi được đưa tới một seafood buffet trên đường Ðồng Khởi, trước kia có tên là Tự Do, và trước nữa là Catinat. Giá trong thực đơn của những tiệm mà tôi được đưa tới ăn rất là cao so với số lương trung bình của người Việt. Rất nhiều món ăn giá cao như ở Little Saigon, và một số giá còn cao hơn. Ðiều đáng chú ý là thực khách rất đông và tuổi tương đối còn trẻ.

Trước khi về lại khách sạn, tôi được đưa tới một phòng trà. Chúng tôi đến có hơi trễ sau khi ăn, nên chỉ tìm được một chỗ gần sát phía sau. Vì ngồi xa như vậy nên sự yếu kém của dàn âm thanh rất dễ thấy. Khung cảnh thô sơ. Bàn ghế bằng kim loại. Tuy nhiên sự trình diễn của các ca sĩ rất sống động và rất tự nhiên. Chính ra, sự giản dị của bối cảnh làm lộ rõ tài năng của các nghệ sĩ và làm nổi bật tình cảm của mỗi bản nhạc. Từ lâu, tôi vẫn nghĩ nhạc Việt diễn tả xúc tích nhất không phải trên sân khấu màu mè kiểu cọ nhiều trang trí và ánh sáng nhân tạo, nhưng trong một bối cảnh đơn giản, cùng một cung cách chấm phá như cách tả cảnh của cụ Nguyễn Du. Ngược lại với những gì tôi nghe đồn ở Mỹ, những bản nhạc của các nghệ sĩ đã di tản sang nước ngoài vẫn được trình diễn một cách tự do.

Một điều rất đáng chú ý là tôi không thấy một ngoại ngữ nào được sử dụng nơi công cộng trừ tiếng Anh. Có vẻ như có một lúc nào đó trước đây, chính phủ Việt Nam đã quyết định Anh Ngữ là ngoại ngữ chính thức và được độc quyền xử dụng ở Việt Nam khi nào và nơi nào ngoại ngữ cần được xử dụng, chẳng hạn dấu hiệu, bản hướng dẫn, hoặc khi các tiếp viên, chiêu đãi viên hoặc hướng dẫn viên phải nói chuyện với người nước ngoài, dù rằng có rất ít người nước ngoài nói tiếng Anh. Ðó là trường hợp trên xe buýt của tôi. Tất cả hành khách từ Âu Châu đến, phần lớn từ Bồ Ðào Nha (hoặc Tây Ban Nha) trừ tôi và một giáo sư ngôn ngữ người Mỹ trên đường sang dạy Anh Văn ở Quảng Ðông. Ông tài và hai người phụ tá chỉ dùng tiếng Anh khi phải nói chuyện với hành khách. Không phải chỉ trong Nam, ngoài Bắc cũng vậy.

2.   Chuyến Ði Về Nha Trang:

TPHCM có nhiều tour bus (để phân biệt với xe đò) khác nhau. Cách tổ chức và điều hành có vẻ quy mô và đàng hoàn. Giá lại rẻ vì vậy rất được giới du lịch với phương tiện tài chánh không được dồi dào từ Âu Châu (người Việt gán cho họ cái tên “Tây Ba Lô” vì hành lý chỉ có cái ba lô) ưa chuộng. Giá vé được niêm yết trước; xe không dừng dọc đường để bắt khách mà chỉ dừng lại những nơi cố định; và nhất là họ không dồn nhét hành khách – mỗi hành khách một ghế ngồi và không ai được đứng. Hình như có luật quy định về vấn đề này.

Một cái hay nữa của xe tour là họ sẵn sàng đậu nơi nào hành khách muốn xuống, chẳng hạn Phan Thiết khi hơn nửa số hành khách của xe tôi ở lại và đi Mũi Ne, nơi mà dân Sài Gòn và du khách ngoại quốc rất thích.

Chuyến đi tương đối nhẹ nhàng và thoải mái. Khí hậu không nóng hơn LA bao nhiêu nhưng sự ẩm thấp đôi khi chịu không nổi. Bỡi vậy sự khoan khoái khó tả xiết khi có một cơn heo may. Miền Nam hình như dễ có heo may hơn ngoài Bắc. Kinh nghiệm của tôi là nên mang một cái quạt nhỏ và một cái khăn nhỏ nhưng dày. Rất hữu ích khi đứng gió và khi đổ mồ hôi.

Quốc Lộ Số 1 từ TPHCM tới Nha Trang, so với năm 1993 lần cuối cùng tôi về Việt Nam trước lần này, đã được cải thiện rất nhiều, tuy vẩn còn rất hẹp. Cà Ná không thay đổi mấy và đó là lý do tại sao bãi biển vẫn còn đẹp. Bên lề đường đậu khá nhiều xe như Camry, Mitsubishi Montero và ngay cả Landcruiser, rất cồng kềnh so với đường sá ở Việt Nam. Cam Ranh thì có vẻ suy sụp nhiều. Nhà cửa xây cất một cách xô bồ vô trật tự cả hai bên xa lộ. Nhưng vịnh Cam Ranh và bán đảo bên kia Vịnh trông vẫn tuyệt vời.

3.   Nha Trang.

Tôi sống ở Nha Trang khá lâu trước khi qua Mỹ nên như có người đã nói, yêu thương Thành Phố mà không hiểu tại sao. Khi tôi về Việt Nam lần trước, số dân gia tăng có lẽ đến ba lần và nói đủ thứ giọng. Ðó có lẽ là bằng chứng rõ rệt nhất là cái đẹp của thành phố Nha Trang có tính cách đại chúng.

Sài Gòn đã phát triển và thay đổi đến mức biến thành một thành phố khác. Nha Trang, tuy có phát triển và lớn rộng hơn, nhưng vẫn giữ được sắc thái và duyên dáng của một thành phố nhỏ. Có thể nói Nha Trang là Key West của Việt Nam với rất nhiều xe hai bánh. Bãi biển đẹp không kém bất cứ bãi biển nào trên thế giới, và náo động đông đảo hơn bất cứ bãi biển nào ở Việt Nam. Tôi chưa bao giờ thấy bãi biển Nha Trang đông người như lần này: người đi bộ, người đi xe đạp, chạy bộ, đánh vũ cầu, đánh bóng chuyền, phơi nắng, bơi lội, v.v… bất cứ giờ nào trong ngày.

Ðường Trần Phú (trước kia là Duy Tân) mở rộng và tu bổ hơn, về phía Nam chạy dài đến Cầu Ðá, về phía Bắc đâm ngang qua và lấy một phần của khuôn viên Tòa Hành Chánh Tỉnh (Tỉnh Ðường cũ), chạy dài đến Ðồng Ðế. Một cây cầu sẽ được bắt ngang qua miệng sông Hà Ra. Ðồng Ðế bây giờ là một phần của thành phố Nha Trang và đã bắt đầu đông đúc.

Năm 1993, Nha Trang có vào khoảng 98 khách sạn. Lần này tôi không thấy thống kê, nhưng con số có lẽ lên gấp đôi. Ngoài những khách sạn đã có sẵn và rất được ưa chuộng như Hải Yến, Grand, Fregate, v.v…, khách sạn mới và tân tiến mọc lên khắp nơi, nhất là bờ biển. Ngoài những tiện nghi “đương nhiên” như máy lạnh, tiệm ăn sang, bar, và dịch vụ tiếp đãi lịch sự và hữu hiệu, một số khách sạn còn cung ứng những tiện nghi “độc đáo” khác. Yasaka Saigon Nhatrang (đó là tên của khách sạn) tiền phòng vào khoảng từ $35 tới $40, hai giuờng rất rộng rãi, có hai sân tennis và phòng tập thể dục (gym) khá đầy đủ dụng cụ. Lodge Nhatrang, cũng cùng giá, không có sân tennis nhưng lại có phòng tắm hơi và đấm bóp.

Cũng trên đường Trần Phú về hướng lầu Bảo Ðại là khách sạn Anna Mandara, nằm về hướng đông của bờ biển nghĩa là trên bãi cát. (Ngay dưới thời cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, thương phế binh có quyền cấm dùi gần như bất cứ nơi nào trừ bãi cát). Tuy nhiên cách xây cất rất tế nhị và có suy nghĩ. Khi lái xe đi qua lần  đầu tôi không biết đó là khách sạn. Tiền phòng thay đổi theo mùa nhưng trung bình từ $150 tới $275. Ðây là một khách sạn thực sự sang và mọi thứ từ ngoại sảnh tới phòng ngủ, từ bàn ghế tới trang trí, từ tiệm ăn tới khu đọc sách đều thuộc hạng cao. Ðiều bất ngờ nhất, và cũng là bằng chứng của sự ưa chuộng của du khách đối với khách sạn này và của thành phố Nha Trang, là khi tôi đến, khách sạn hết chỗ và họ có sổ chờ cho những du khách vì không có chỗ phải ở tạm các khách sạn khác.

Phần lớn nhửng khách sạn bên Việt Nam gọi là mini rải rác khắp nơi trong thành phố, giá rẻ hơn, phòng nhỏ hơn, nhưng tiện nghi cũng rất đầy đủ.

Ngày ở Nha Trang bắt đầu rất sớm bỡi vì bình minh đến sớm. Một lý do nữa là chính quyền địa phương đánh thức tôi dậy mỗi ngày kể cả ngày chủ nhật vào lúc năm giờ sáng, đó là lúc họ mở máy phóng thanh mà cái loa cách cửa sổ phòng ngủ của tôi chỉ có khoảng một trăm feet. Nhưng tôi không có gì để than phiền vì giờ đó đi bơi rất tốt. Tôi bơi mỗi ngày trong thời gian ở Nha Trang. Ngay cả lúc năm giờ sáng mà ngoài đường và trên bãi biển đã đầy người, và xe đạp và xe gắn máy.

Thời gian tôi ở Nha Trang quá ngắn ngủi nhưng rất thích thú. Tôi có hơi chần chừ khi rời Nha Trang dù rằng tôi rất muốn khám phá những vùng “xa lạ”. Và đối với tôi, vùng nào ở phía bắc của Nha Trang là đều xa lạ cả. Ngược với lời khuyên của bạn bè và thân nhân, tôi quyết định đi Hà Nội bằng xe buýt.

Chỉ sau vài giờ ngồi trên xe, tôi bắt đầu nghĩ lại về quyết định này.

4.      Hội An, Ðà Nẵng và Huế.

    Quốc Lộ 1 từ Nha Trang đi về hướng bắc không được bằng phẳng như đoạn đường đi về nam. Lầm lỗi lớn của tôi là mang nhiều hơn hai xách hành lý. Ði “xuyên Việt” kiểu này thì một cái carry-on và cái ba lô là thuận tiện nhất, gọn gàn và có nhiều tự do hơn. Rất là cồng kềnh và bất tiện nếu tôi muốn dừng lại nơi nào. Vì vậy tôi không ghé Qui Nhơn được vì xe buýt của tôi không vào Qui Nhơn.

a)      HỘI AN: Trời đã tối khi chúng tôi đến Hội An. Trừ tôi, một người nữa từ California và bốn người Ðức, tất cả hành khách còn lại là người Bồ Ðào Nha và đều ở lại Hội An, có lẽ muốn tìm những di tích văn hóa và thương mại người Bồ để lại từ thế kỷ mười sáu hoặc mười bảy. Hội An có một “truyền thống” mới. Mỗi tháng thành phố có một ngày hội. Ngày tôi đến đúng vào ngày hội, đèn lồng treo khắp nơi. Tôi được một người làm ở khách sạn đưa đi coi khu phố cũ hay phố chính. Tuy đã trễ, nhưng hàng quán vẫn rất nhộn nhịp nhất là các quán ăn ở bờ sông. Tôi không đi được nhiều nơi vì phải đi ngủ sớm chuẩn bị cho hành trình ngày mai – khởi sự lúc sáu giờ sáng.

b)      ÐÀ NẴNG: Xe chỉ chạy ngang Ðà Nẵng và dừng lại vào khoảng một giờ trước cổng Bảo Tàng Viện Chàm. Nhưng những gì tôi thấy được trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó gây một ấn tượng sâu xa. Gần như chỗ nào chúng tôi đi qua đều thấy có công trình xây cất. Nhìn thành phố, nhìn những khoảng trống bao la chung quanh và nhất là con sông chảy ngang thành phố, tôi như thấy biểu hiện một khả năng phát triển to lớn.

Từ trên đèo Hải Vân nhìn xuống, tôi có thể hiểu được tại sao cựu quân nhân Mỹ rất hồ hỡi về Vịnh và bãi biển Ðà Nẵng. Như những hành khách khác trên xe, tôi lấy máy hình ra để cố thu cảnh trí bao la. Nhưng máy hình của tôi không đủ sức để ghi nhận được sự hùng vĩ của địa hình trước mắt.

    Ðứng trên đỉnh đèo nhìn xuống, bỗng nhiên một ý tưởng đến một cách bất ngờ làm tôi sững sốt vì tôi không bao giờ nghĩ tới cho tới giây phút này, dù rằng điều đó rất hiển nhiên và hữu lý: tôi không biết gì nhiều về nước Việt Nam

c)      HUẾ: Tôi chỉ dừng lại Huế có mấy giờ trước khi đổi xe buýt đi Hà Nội. Hãng xe Sài Gòn không có giấy phép chạy đường Hà Nội. Tôi rất hối hận không đi máy bay vì như vậy tôi có thể ở lại Huế qua đêm và có thể ghé thăm cậu mợ tôi và các em vẫn còn sống ở đây. Tôi tưởng xe buýt sẽ chạy qua cầu Trường Tiền, nhưng chỉ chạy dọc theo bờ sông Hương. Nhưng cũng đủ để tôi hồi tưởng lại khi tôi, tám hoặc chín tuổi, được cậu tôi đưa đi tắm ở sông Hương.

5     Trên Ðường Ði Hà Nội.

Nếu Quốc Lộ 1 từ Nha Trang tới Huế xấu, thì đoạn đường từ Huế tới Hà Nội phải nói là khủng khiếp. Lũ lụt liên tiếp gây hư hại rất nhiều cho chặng đường này. Tôi rời Huế khoảng sáu giờ chiều. Như những hành khách khác, tôi ngủ trong khi xe đi qua những vùng mà tôi muốn được thăm hay ít nhứt là xem, như Bến Hải, Ðông Hà, Quảng Trị, v.v… Vào khoảng nữa đêm chúng tôi bị đánh thức dậy và được yêu cầu xuống xe để xe có thể lên phà. Hành khách người nào trông cũng mệt mỏi. Tôi có lẽ còn tiều tụy hơn và rất muốn đi ngủ lại nhưng không có chỗ. Người lái xe không được khéo vì vậy hai bánh sau của xe buýt bị kẹt ở chỗ cái vỉ sắt của phà nối với mặt đường của bến phà. Trong khi chờ đợi ông tài và mấy người phụ tá dùng dụng cụ bẩy bánh xe lên, tôi cảm thấy buồn tiểu.

Bỗng nhiên (tôi không hiễu tại sao tôi không để ý tới trước đó) trong không khí khai nồng nặc mùi nước tiểu. Tôi nhìn chung quanh để định xem mùi hôi từ đâu đến: ngay trên bờ sông cách bến phà có lẽ vào khoảng mười thước hành khách đang đứng tiểu, một hiện tượng có lẽ xảy ra hằng đêm bao nhiêu năm nay.

Trong lúc tôi đang thắc mắc tại sao chính quyền sở tại không làm gì cả, thì một người đàn ông mình trần chỉ mặt quần đùi mang quần áo ra bờ sông ngay bến phà và bắt đầu giặt giũ. Ngay nửa đêm. Và có vẻ không để ý gì đến người hoặc cảnh vật chung quanh. Rồi một người đàn bà xuất hiện cùng chỗ đèn sáng, một tay cầm một con cá dang dãy dụa và một tay cầm con dao. Người đàn bà liếc nhìn những hành khách ngồi chung quanh trong bóng tối. Họ đang theo dõi việc làm của người đàn ông và bây giờ chuyển sự chú ý sang người đàn bà, nhìn con cá rồi nhìn con dao như thôi miên, không muốn tin điều mà, một cách hơi mơ hồ, họ nghĩ là sắp xảy ra. Người đàn bà, hơi có vẻ ngại ngùng, đưa con dao lên, bổ xuống đầu con cá. Chưa đạt được ý muốn, con dao trong tay người đàn bà giáng xuống đầu cá thêm mấy lần nữa, mỗi lần như vậy, người đàn bà có vẻ bạo dạn hơn và tự tin hơn.

Trong lúc đó có hai nhân viên bến phà ngồi chồm hổm, hai tay duỗi thẳng và tựa lên trên đầu gối, miệng phì phào thuốt lá. Họ không có vẻ để ý tới những gì đang xảy ra chung quanh, từ hành khách đứng tiểu cách chỗ họ ngồi không xa, người đàn ông giặt quần áo, người đàn bà làm cá tới người lái xe và phụ xe chạy đôn đáo để bẩy xe lên phà. Tôi nhẹ nhàng bước tới gần, và thấy rõ ràng là họ đang nhìn ra dòng sông có vẻ trầm tư. Trong khung cảnh nửa tối nửa sáng, mọi sự có vẻ “siêu thực” làm tôi gần như không nghe lời gọi của ông tài nhờ hành khách giúp đẩy xe lên phà. Hai nhân viên bến phà vẫn ngồi yên không nhúc nhích.

Khi phà rời bến, tôi tiến lại gần một nhân viên khác để hỏi xem con sông tên gì và tại sao xe chúng tôi phải qua phà mà một số xe khác được chạy qua cầu. Sau khi máng dây xích vào một trụ sắt, ông ta nói một tràng tôi nghe mà không hiểu hết được. Người phụ xe đứng bên cạnh “thông dịch” lại cho tôi. “Nhứt Lị” tức là sông Nhật Lệ và chỉ xe trọng tải nhẹ mới được đi qua cầu. Tôi cảm thấy hứng thú vô cùng về cách phát âm của ông nhân viên nên tôi tìm cách tiếp tục nói chuyện để nghe xem mỗi chữ ông ta sẽ phát âm khác như thế nào.

Khi lên lại xe buýt, tôi không chống được cơn buồn ngủ. Khi thức giấc trời đã gần sáng, tôi tưởng xe sắp vào Hà Nội. Nhưng khi nhìn bảng hiệu thương mại (đó là cách duy nhất cho tôi biết đang ở thành phố, quận hoặc tỉnh nào) tôi ngạc nhiên thấy xe chỉ mới tới Hà Tĩnh. Sức nóng, sự ẩm ướt và đoạn đường dài làm tôi bắt đầu mệt mỏi và uể oải. Tôi không còn muốn ngắm nhìn cảnh vật hai bên đường dù rằng tôi vẫn nhớ đây là lần tiên tôi được đặt chân đến vùng đất cổ xưa của Việt Nam nơi mà những biến chuyển trọng đại trong lịch sử đã xảy ra và vẫn còn mang nhiều dấu tích của những biến chuyển đó. Sự độc điệu của cảnh vật là một lý do quan trọng làm cho tôi thiếu hăng hái. Trừ một vài thành phố lớn, Quốc Lộ 1 hình như chạy qua tất cả những thành phố khác từ TPHCM tới Hà Nội và là phố chính. Vì vậy khi đã thấy một thành phố là coi như đã thấy tất cả những thành phố khác. Khi vào một thành phố dù không biết tên, tôi gần như có thể đoán được hai bên đường có những loại hàng quán gì.

Tôi bắt đầu cảm thấy hào hứng trở lại khi xe vào cánh đồng lúa của Nghệ An hoặc Thanh Hóa (không có mốc hoặc dấu hiệu gì cho tôi biết là đang ở đâu). Khi còn ở Việt Nam, sống hết thành phố này sang thành phố khác, tôi gần như quên là lâu lắm tôi đã sống ở miền quê khi tôi còn nhỏ. Nhìn cánh đồng xanh nhấp nhô và hít thở mùi vị độc đáo của mạ non, một cách bất ngờ và kỳ diệu tôi như sống lại thời thơ ấu và bỗng nhiên những ký ức tưởng đã chôn vùi sau bao năm tháng hiện ra một một cách rõ rệt như vừa xảy ra hôm qua.

Xe đã rời khỏi cánh đồng lúa và đi vào một thị trấn nhỏ, nhưng tôi vẫn còn trong giấc mơ. Một bảng hiệu bên đường “chúng tôi có thịt chó, cóc và rắn” mang tôi về với thực tế. Trước khi rơi vào giấc ngủ mệt, tôi được biết xe sẽ tới Hà Nội trong vòng ba giờ.

 6.     Hà Nội.

Trời đã chiều khi xe đậu lại trước khách sạn Ðồng Xuân, nằm bên cạnh chợ Ðồng Xuân. Ðây là một khách sạn nhắm vào du khách “economy”, giá tám mỹ kim một ngày, bớt thêm hai mỷ kim nếu khách ở lại đêm thứ nhì. Tôi lên xem phòng, tuy có chật nhưng rất sạch sẽ, không có máy lạnh nhưng mỗi phòng đều có quạt máy. Nếu không giữ chỗ trước ở khách sạn Hòa Bình, có lẽ tôi đã ở lại đây, ít nhất một đêm, vì cái chợ có tên Ðồng Xuân thường được tô điểm trong tiểu thuyết và nhắt nhở trong sử ký Việt Nam.

Trong tiền sảnh đầy người, một giọng Hà Nội, nguyên chất, nói sau lưng tôi “Bác có cần xe không bác ơi?” Tôi quay lại và đối diện với một thanh niên trông rất khỏe mạnh. Câu hỏi vừa rồi anh hỏi tôi. Nếu gặp trong khuôn viên của một trường đại học, tôi sẽ nghĩ anh là một sinh viên cao học (vì tuổi tác không trẻ hẳn nhưng không già).  Tôi tưởng anh làm việc cho khách sạn, nhưng thực sự là đạp xe xích lô. Sau khi đã lên xe, tôi trực nhận là anh, một cách lể độ và lịch sự, đã cố gắng thuyết phục tôi lên xe chứ không phải “ép” tôi chẳng hạn bằng cách dằn lấy hành lý bỏ lên xe, một hành vi thường xảy ra ở trước cửa các khách sạn ở Sài Gòn.

Có thể đây chỉ là một trường hợp hiếm hoi của một thanh niên có nghề ban ngày, buổi chiều chạy xích lô kiếm thêm tiền. Nhưng chỉ trong một thời gian ngắn ở Hà nội, tôi gặp khá nhiều người trẻ như vậy, đạp xích lô hoặc lái xe ôm. Một anh xe ôm sau khi đưa tôi từ bộ Thương Mại về khách sạn, hỏi tôi từ đâu đến. Muốn tránh những câu hỏi khó trả lời, tôi nói từ Thành Phố Hồ Chí Minh. Lấy mũ xuống (vì trời nóng và cũng là dấu hiệu anh muốn nói chuyện lâu), anh cho tôi biết đã đi học ở TPHCM, làm việc ở Thủ Ðức, mất việc và trở lại Hà Nội.

Trông anh, tôi có thể tin được anh là một người đã tốt nghiệp đại học. Anh nói không chắc tìm được việc vì ở Hà Nội không có việc. Rõ ràng đối với anh, xe ôm không phải là “việc”. Anh đang đi học thêm để kiếm việc khác nhưng cũng không chắc có tìm được việc hay không. Anh nói bằng một giọng tự nhiên bình thản không chỉ trích, không cay đắng. Ðứng trước cửa khách sạn nghe anh xe ôm tâm sự, tôi chắc chắn mối ưu tư hệ trọng nhất của thế hệ này là có việc làm, hay đúng ra một việc làm với lương bỗng đầy đủ.

Nhưng Việt Nam đang có những vấn đề nghiêm trọng khác như đường sá và cầu cống, ô nhiễm, vấn đề lưu thông trong thành phố, rác và chất phế thải v.v… Có dấu hiệu cho thấy chính quyền đã bắt đầu chú ý tới những vấn đề này. Khi tôi đang ở Việt Nam, Hà Nội đang tiếp đón đại diện của bốn công ty Mỹ chuyên về quản trị rác và chất phế thải.

Không khí ở Việt Nam có vẽ như chỉ ô nhiễm tới ngang mũi, khi xe đi trước phun khói vào mũi người đi sau. Còn bầu trời lúc nào cũng trong xanh. Dân chúng chống ô nhiễm bằng cách mang mặt nạ khi ra đường. Giống như vấn đề ô nhiễm, tôi không thấy chính quyền đưa ra một biện pháp nào để thay đổi thói quen lái xe của dân chúng. Vì rằng vấn đề có thể giải quyết dễ dàng và nhanh chóng với những dấu hiệu đi đường, lằn vẽ vàng trắng, và giấy phạt (mà tôi nghĩ chính quyền nào cũng phải ưa chuộng), tôi không hiểu được tại sao sau bao nhiêu năm vẫn không thay đổi.

Ở Hà Nội, “Ðường” đổi thành “Phố”. Phía bắc của phường Hoàn Kiếm, mỗi “Phố” mang tên của loại hàng bán ở phố đó. Ví dụ “Phố Hàng Bạc” bán nữ trang, “Phố Hàng Cá” bán cá. Hay ít nhất tôi hiểu như vậy qua bao nhiêu văn chương tiểu thuyết đọc khi còn nhỏ. Khi đến Hà Nội tôi vẫn còn mong đợi được thấy các Phố Hàng giữ nguyên truyền thống đó. Tên thì vẫn như cũ, nhưng kinh tế và thương mại đã “phản bội” truyền thống đó. Trường dạy computer và mini khách sạn chiếm cả những chỗ tốt trên các Phố Hàng, và phần lớn các cơ sở thương mại, bất kỳ nằm ở Hàng nào, đều bán quần áo và những sản phẩm nhắm vào du khách. Chữ “Hàng” vì vậy không còn mang bao nhiêu ý nghĩa, ngoài việc tên Hàng có lẽ có ích cho du khách với nhiều trí tưởng tượng.

Trong mấy ngày ở miền Bắc, tôi nhận thấy dân chúng có vẻ có kỷ luật, nghiêm trang và không hồ hỡi như miền Nam. Khéo léo hơn và dè dặt hơn.

7.      Vịnh Hạ Long.

Ðoạn đường Hà Nội-Vịnh Hạ Long tương đối ngắn nhưng hành trình khá dài và khá cực nhọc bỡi vì một đoạn vào khoảng năm mươi cây số trước khi đến Vịnh gần như không có đường. Tài xế thấy chỗ nào trống là lái vào. Xe chúng tôi bị chận lại vì xe chở quá số người, dù rằng tôi thấy mọi người đều ngồi cả, không ai đứng. Tài xế xuống xe nỏi chuyện với hai nhân viên công lực mặc đồng phục. Sự chờ đợi có hơi lâu.

Tôi ngồi sát cửa sổ cố gắng nghe sự trao đổi giữa hai bên thì bỗng nhiên người hành khách trung niên ngồi sát tôi, chồm qua người tôi đưa đầu qua cửa sổ lớn tiếng với hai nhân viên đồng phục:

“Cho đi đi bác ơi. Soát cái đéo gì mà lâu thế.”

Tôi không dám đổi sắc diện. Cũng như những lần trước về Việt Nam, tôi rất cẩn thận về ngôn ngữ, cử chỉ và thái độ. Nhưng tôi không ngăn được một cảm giác mới lạ đến bất ngờ khi nghe câu nói này. Không nơi nào nói tục hay hơn và nhiều hơn trường luật Sài Gòn, nơi tôi học. Chữ Đ.M. đánh vần bốn kiểu khác nhau. Thành thử tôi không lấy làm lạ khi nghe nói tục chửi thề.

Nhưng có cái gì rất nguyên chất, rất “thực”,  rất “original” trong câu nói cũng như cách nói của ông Bắc Kỳ chính gốc này: nghiêm trang, đĩnh đạt và chữ “đ-é-o” không mang tính tục mà lại nhấn mạnh và làm nổi bật cái phi lý, cái “bựa” của hai ông công lộ. Tuy không để lộ ra, nhưng trong lòng tôi nảy nở một cảm giác thân thiện, với ông hành khách này và với vùng đất mới. Đây là lần đầu tiên tôi đến miền Bắc. Lần đầu tiên tôi đi xa hơn Huế về hướng Bắc.

Khi vào Hạ Long, quang cảnh trước mắt thật sự là một kỳ quan. Ðứng trên bờ nhìn ra Vịnh, tôi thấy các hòn đảo bao tròn Vịnh như một cái vòng. Khi tàu tới gần vòng đảo, Vịnh lại mở ra và bên ngoài lại có một vòng đảo khác. Vịnh Hạ Long có tất cả là 1969 hòn đảo. Muốn đi thăm động, phải mua hai vé, một để đi tàu và một để vào động.

Vé của tôi cho phép vào hai động, Thiên Cung và Ðầu Gỗ. Tàu của tôi đậu ở chân của một hòn núi nhỏ có động Thiên Cung. Khi bước vào động, tôi sững sốt vì bên trong hòn núi trống rổng như một quả trứng gà đã lấy hết tròng trắng tròng đỏ. Những xoi mòn và thạch nhũ bên trong là một chứng tích của sự kỳ diệu của thiên nhiên.

Ðộng Ðầu Gỗ không kỳ diệu bằng dộng Thiên Cung, nhưng gây cho tôi một ấn tượng sâu xa khi tôi được biết đây là nơi Trần Hưng Ðạo dùng để chứa gỗ và dưỡng binh trước khi khởi sự trận chiến trên sông Bạch Ðằng. Cái cảm giác tôi đang hít thở không khí Trần Hưng Ðạo và tướng sĩ đã hít thở, dẫm chân lên trên những vết chân của họ, và những bức tường như còn ghi âm vang của những cuộc bàn thảo, tranh luận, cũng như những phấn khởi, phẩn nộ của tiền nhân, làm cho lịch sử trong giây phút bỗng trở thành kinh nghiệm sống của tôi.

8.     Một Hoàn Cảnh Ðặc Biệt, Một Cơ Hội Ðặc Biệt.

Việt Nam không phải là một nơi để một người đến xem rồi trầm trồ khen ngợi. Ðây là nơi mà rất nhiều thứ, đúng ra gần như mọi thứ, đều có thể được làm cho đẹp hơn, tốt hơn và hay hơn. Ðây là nơi mà nếu ai có một số vốn tương đối nhỏ (so với số vốn cần thiết để đầu tư, ví dụ, bên Ðài Loan hay Nhật), một chút tài năng, một chút sinh lực là có thể tạo dựng và thành công.

Ðây cũng là nơi mà người dân rất nhạy cảm về danh dự quốc gia dân tộc và, do kinh ngiệm lịch sử, rất dè dặt đối với người nước ngoài, nhất là những nước ngoài có sức mạnh (tư bản hoặc quân sự). Khi giao dịch với nước ngoài ngay cả chỉ về thương mại và tài chánh, nếu cảm thấy như danh dự bị đụng chạm hoặc chủ quyền bị sức mẻ, họ có thể rút lui và giữ một thái độ xa cách ngay.

Người ngoài khó đoán được những gì sẽ xảy ra vì ít ai biết được cách hành sự của chính quyền trung ương ở Việt Nam. Cách thức họ đi đến một quyết định có vẻ cũng chậm chạp như Nhật Bản. Tuy nhiên có dấu hiệu cho thấy giới lãnh đạo có lắng nghe và đang có những thay đổi quan trọng. TPHCM là thí điểm đầu tiên cho phép bán đất cho tư nhân. Hiện đang có thảo luận trong giới lập pháp về vấn đề sửa đổi thuế trị giá gia tăng để cho công bằng hơn và dễ áp dụng hơn.

Hiệp ước thương mại với Hoa Kỳ chắc chắn sẽ giúp cho Việt Nam vượt qua rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, hiệp ước thương mại không thể giải quyết mọi vấn đề mà Việt Nam phải đương đầu. Tương lai của Việt Nam có sáng sủa hay không có lẽ tùy thuộc vào khả năng của giới cầm quyền hiện tại hiểu được điều gì tốt cho Việt Nam và nghĩ ra được phương cách để đạt được những điều đó. Và cũng tùy thuộc vào khả năng chấp nhận đối thoại với những người không đồng ý với họ mà không cảm thấy bị đe dọa.

Hiện nay không biết bao nhiêu người bày tỏ lòng yêu thương Việt Nam. Thương yêu không phải là vấn đề. Thương yêu như thế nào mới là vấn đề, bỡi vì điều đó đòi hỏi hành động và chọn lựa, hành động hữu hiệu và chọn lựa đúng.

Việt Nam trong lúc này không khác với Hoa Kỳ bao nhiêu vào lúc Hoa Kỳ dành được độc lập từ người Anh – trong cái nghĩa là những nhà lập quốc Hoa Kỳ đã phải hành động và chọn lựa. Và những hành động và chọn lựa của họ đã có ảnh hưởng sâu xa trên hướng đi của quốc gia mới. Giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay cũng đang đứng trước một thử thách tương tự, lèo lái nước Việt đi đúng hướng để mang hạnh phúc và thịnh vượng cho dân Việt. Trách vụ của họ đã được làm cho dễ dàng hơn rất nhiều so với các nhà lập quốc Hoa Kỳ năm 1776 bỡi vì ngày nay, tin tức sẵn sàng và đầy đủ, từ những nghiên cứu, sưu tầm, thống kê trong các viện đại học hoặc các học viện nghiên cứu, cho tới kinh nghiệm của những quốc gia đã đi trước. Ðó là lý do tại sao nếu họ thất bại trong việc đem lại cường thịnh cho Việt Nam, khó có ai có thể tha thứ cho họ được.

Luật Sư JOHN P. LÊ PHONG.

TÂM TƯ CỦA MỘT NGƯỜI VIỆT SỐNG Ở MIỀN NAM TRƯỚC NĂM 1975 (Nhân đọc “Tâm Tư Tổng Thống Thiệu)

̣(Tôi có hân hạnh được gặp và nói chuyện với Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng, Tổng Trưởng Kế Hoạch dưới thời chính Phủ Nguyễn Văn Thiệu, khi ông đến California để ra mắt cuốn sách mới của ông “Tâm Tư Tổng Thống Thiệu”. Sau khi đọc xong cuốn sách này, tôi đã viết bài bình luận được đăng lại sau đây. Sau khi viết xong, và trước khi cho luân lưu trong một số it́ thân hữu ở Orange County, miền nam California, tôi có đưa cho Tiến Sĩ Hưng xem trước để lấy ý kiến của ông. Nhưng, ông không bình phẩm gì cả.

LS John P. Lê Phong)

TÂM TƯ CỦA MỘT NGƯỜI VIỆT SỐNG Ở MIỀN NAM TRƯỚC NĂM 1975

(Nhân đọc “Tâm Tư Tổng Thống Thiệu)

I. DẪN NHẬP.

Rất nhiều câu hỏi được đặt ra và rất nhiều sách được viết về cuộc chiến Việt Nam, nhưng chưa có câu trả lời nào giải tỏa được cái ưu tư ray rức nhất của người Việt sống ở Miền Nam trước năm 1975, trong sự tìm kiếm nguyên nhân nào đã đưa miền Nam Việt Nam đến biến cố tháng tư năm 1975. Câu trả lời thõa đáng sẽ là bài học cho các thế hệ người Việt sau này muốn xây dựng nước và giữ nước.

Ba cuốn sách của nguyên Tổng Trưởng Kế Hoạch của ba năm cuối của thời đệ nhị cộng hoà Miền Nam Việt Nam, Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng, nhất là cuốn thứ hai, “Khi Đồng Minh Tháo Chạy”, có vẻ coi sự rút quân và cắt viện trợ của Hoa Kỳ là nguyên nhân chính gây nên sự sụp đổ của Nam Việt Nam.

Những cuốn sách của Giáo Sư Hưng rất quý giá. Những tài liệu trích dẫn rất đầy đủ và công phu. Có những cuốn hồi ký khác cũng chứa đựng rất nhiều dữ kiện ghi lại do những người trong cuộc viết rất có giá trị về phương diện sử liệu liên hệ tớí một khía cạnh của cuộc chiến chẳng hạn một trận đánh. Nhưng những cuốn sách của Giáo Sư Hưng cho người đọc một cáí nhìn rộng rãi và toàn diện hơn về cuộc chiến.

Trong cuốn Tâm Tư Tổng Thống Thiệu (TTTTT), cũng như trong lần tôi được gặp ông ở Garden Grove, Tiền Sĩ Hưng bày tỏ hy vọng là những cuốn sách của ông giúp được cho các thế hệ tương lai hiểu cặn kẽ và chính xác giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến Việt Nam và nhất là những gì đã xảy ra trong mối liên hệ đồng minh giữa Sài Gòn và Hoa Thịnh Đốn. Ba cuốn sách đã xuất bản là chứng liệu Tiến Sĩ Hưng đã bỏ nhiều công phu và thì giờ để hoàn thành ước nguyện đó và đã rất thành công.

Công trình của ông cũng giúp cho người đọc có nhiều dữ kiện vững chắc để có thể rút ra kết luận về những biến chuyển quan trọng liên quan tới cuộc chiến Việt Nam. Và dù cho một kết luận có khác với chủ đề của cuốn sách của Tiến Sĩ Hưng, kết luận đó không làm giảm giá trị sử liệu của công trình quý giá của ông.

II. ĐỒNG MINH HOA KỲ CÓ THÁO CHẠY HAY KHÔNG?

Dĩ nhiên là không.

Nếu hiểu đúng nghĩa đồng minh là gì. Không phải là đồng chí hay ngay cả đồng đội. Mà là một sự liên kết giữa một nhóm thế lực để chống lại một thế lực hoặc một nhóm thế lực khác. Trên bình diện quốc tế, “đồng minh” dính liền với “an ninh quốc gia”. Hoa Kỳ “đồng minh” vớí Việt Nam là vì nền an ninh cuả Hoa Kỳ đòi hỏi họ phảỉ liên kết với Việt Nam. Khi sự liên kết đe dọa hoặc có hại cho nền an ninh của Hoa Kỳ, Hoa Thinh Đốn phải tìm cách tháo gỡ sự liên kết đó, nhất là, như sẽ phân tách dưới đây, sự liên kết của  Hoa Kỳ với Miền Nam Việt Nam chỉ là một giải pháp tạm thời. Khi hoàn cảnh ảnh hưởng tới nền an ninh của Hoa Kỳ, Tổng Thống Nixon hay Ford phải làm nhiệm vụ của họ đối với dân và nước Mỹ, chớ không phải lo giữ lời hứa với Tổng Thống Thiệu, nhất là khi đọc cho kỹ những lời hứa, sẽ thấy có những điều kiện đi kèm với lời hứa (chẳng hạn “khi hoàn cảnh đòi hỏi và luật lệ cho phép”) làm cho sự “tháo chạy” của Hoa Kỳ không phải là thất hứa. Mất Miền Nam phần lớn là do giới lãnh đạo Miền Nam đã hiểu sai ý nghĩa của khái niệm “đồng minh” là sống chết có nhau. Sự sai lầm đó đưa tới Miền Nam nương tựa hoàn toàn vào Hoa Kỳ, thiếu chuẩn bị và yếu kém về nhiều phương diện khi Hoa Kỳ rút lui.

Thử phân tách một phương diện: Ngoại Giao và chuyến đi du thuyết của Giáo Sư Hưng. Trong tình trạng Miền Bắc chiếm thượng phong và Miền Nam đang mất đất và mất thế chủ động (dù rằng trận địa chiến là sở trường của quân đội Miền Nam), thì câu hỏi phải được đặt ra là phương lược của Miền Nam sau khi thất thủ Ban Mê Thuột là gì? Khi Tổng Thống Thiệu cầm cây viết chì kéo một đường dài trên bản đồ, ông và ban tham mưu của ông có kế sách và lực lượng gì để biến con đường bút chì đó thành một chiến lũy chớ không phải là một ước mơ?

Có nhiều lập luận cho rằng giới lãnh đạo của Miền Nam hiểu rõ tình hình và tinh thần cũng như khả năng chiến đấu cuả quân đội cộng hòa, chứng tỏ một cách dũng cảm trong trận An Lộc; chỉ cần Mỹ giúp cho phương tiện là có thể lật ngược thế cờ. Đó chính là sứ mệnh của Tiền Sĩ Hưng được Tổng Thống Thiệu đặt phái qua Hoa Thịnh Đốn để xin viện trợ 300 triệu đô la. Nhưng giới lãnh đạo Mỹ không “mua” cái lập luận đó. Có thể là vì người Mỹ, cả chính giới và dân chúng, không hiểu rõ tiềm năng của Miền Nam bằng giới lãnh đạo Miền Nam. Chính vi vậy muốn thuyết phục quốc hội Hoa Kỳ chi viện thêm, chính quyền Miền Nam phải làm việc cật lực hơn, cố gắng hơn để tỏ rõ ý chí quyết tâm chuẩn bị đánh để thắng; phải cử một phái đoàn chớ không phải chỉ có một tổng trưởng, dù là tổng trưởng kế hoạch, và phải trang bị cho các sứ giả của mình thật đầy đủ khí cụ để hoàn thành cái sứ mệnh gần như tuyệt vọng, vì lúc đó Hoa Kỳ đã cắt viện trợ rồi.

Trong những ngày tháng nguy kịch đó, yếu tố quân sự là tất cả. Liệu câu trả lời nào của Giáo Sư Hưng có liên quan tới vấn đề quân sự đủ nặng ký để thuyết phục quốc hội Mỹ mà phần lớn các dân biểu và nghị sĩ đang nghi ngờ là Miền Nam không thể thắng được? Cử một nhân viên dân chính không phải là một chuyên viên quân sự cán đáng trọng trách đó chỉ làm cho Hoa Thịnh Đốn nghĩ là chính phủ Miền Nam không nghiêm trang, hoặc tệ hơn nữa, có vẻ bấn loạn. Sự thất bại cuả Giáo Sư Hưng coi như tiền định.

Quan trọng hơn nữa, khi cử Giáo Sư Hưng sang Hoa Thịnh Đốn, chính phủ Miền Nam đã trang bị cho ông những luận cứ và dữ kiện gì để cho ông có thể thuyết phục được giới lãnh đạo Hoa Kỳ thay đổi quyết định của họ? Ông có trình bày cho Hoa Thịnh Đốn rõ Miền Bắc có bao nhiêu sư đoàn đang hoạt động ở Miền Nam (theo các sử liệu sau năm 1975, Miền Bắc đã đưa từ 9 tớí 15 sư đoàn vào tham chiến ở Miền Nam)?  Chính phủ VNCH có tin tình báo hay dự đoán được sự điều động của các sư đoàn đó như thế nào (3 sư đoàn đã nằm sẵn ở miền Tây cắt đứt đường liên lạc về lục tỉnh; đường đi về Vũng Tàu Bà Rịa bị chận đứng; một đạo quân Miền Bắc đang di chuyển từ Nha Trang Bình Thuận về Sài Gòn dọc theo duyên hảỉ; các sư đoàn Bắc Việt sau các trận Ban Mê Thuột, Kontum và Pleiku đang đổ xuống từ cao nguyên hướng về Sài Gòn)? Lực lượng của Miền Nam còn lại bao nhiêu và đang được điều động như thế nào để đương đầu với lực lượng Miền Bắc, ngoài tướng Lê Minh Đảo và các chiến sĩ anh dũng của ông đang tử thủ ở Xuân Lộc? Trong những cuốn sách của Giáo Sư Hưng không thấy nói là ông có trình bày và bàn thảo với chính giới Hoa Kỳ về những vấn đề này và những giải pháp được đề nghị.

Nhưng Hoa Thịnh Đốn đã có những hiểu biết đó cho nên mới quyết định chấm dứt chiến tranh bằng cách chấm dứt viện trợ. Cảm nghĩ của Giáo Sư Hưng, dựa vào những nhận xét như Tổng Thống Thiệu bí mật triệu tập một hội nghị ở Cam Ranh với hai tướng lãnh khác, di chuyển dần dần đường ranh giới sâu vào trong nam, và Tổng Thống Thiệu khen một món ăn ngon ở miền Tây, là Tổng Thống muốn đánh cho tới cùng, nếu cần sẽ rút về miền Tây (trong khi ba sư đoàn của Miền Bắc đã dàn trận chận đường rút).

Tuy nhiên Hoa Thịnh Đốn nhìn sự việc một cách khác hẳn: dựa vào điều kiện chiến trường theo sự hiểu biết của họ, và sự hiểu biết của họ rất gần vớí thực tế, quyết tâm của Tổng Thống Thiệu và các tướng lãnh như tướng Lê Minh Đảo, chỉ làm thiệt hại thêm nhân lực mà không thể thay đổi cục diện chiến trường. Đối vớí người Mỹ, vấn đề không phải là Miền Nam có thể cầm cự được thêm một thời gian nếu có thêm tiền viện trợ mà là cái kết luận của họ là Miền Nam không thể thắng được. Vì vậy khi từ chối chi viện thêm 300 triệu đô la, không phải họ “bỏ chạy” mà vì họ thấy không nghĩa lý. Để làm gì? Trừ khi Giáo Sư Hưng trình bày được những bằng chứng cụ thể là cái kết luận đó sai. Rõ ràng Giáo Sư Hưng, ngay cả Tổng Thống Thiệu, đã không đưa ra được dữ kiện hoặc chương trình hành động gì để thuyết phục được Hoa Thịnh Đốn là họ sai.

It nhất là từ tháng hai năm 1972, Hoa Kỳ bắt đầu thay đổi sách lược về cuộc chiến ở Việt Nam (xem biên bản cuộc họp của Tổng Thống Nixon và Thủ Tướng Chu Ân Lai vào tháng hai năm 1972 và biên bản cuộc họp của Tiến Sĩ Kissinger và Chu vào tháng sáu 1972 được in lại trong cuốn TTTTT cuả Giáo Sư Hưng). Và là một sự thay đổi định mệnh: Hoa Kỳ sẵn sàng rút hết quân ra khỏi Việt Nam và chấm dứt viện trợ.

Nhưng không phải vì vậy mà Hoa Kỳ bỏ ngang Miền Nam. Hoa Kỳ liên tục gia tăng áp lực quân sự cả Miền Nam lẫn Miền Bắc bằng những cuộc dội bom trải thảm, thả mìn,  thủy lôi ở các cửa biển, phát động chiến dịch khủng khiếp Linebacker II. Tất cả các hoạt động quân sự đó có vẻ vô nghĩa (vì Hoa Kỳ đã có ý định rút ra khỏi Việt Nam và, như ghi nhận dưới đây, không muốn làm cho Việt Nam [Miền Bắc] yếu đi) nếu không nhằm mục tiêu giúp Miền Nam. Có thể Hoa kỳ muốn phô trương lực lượng cho thế giới thấy tiềm năng hủy diệt của Hoa Kỳ không giảm sút sau chiến tranh Việt Nam và dằng mặt những anh hùng rơm của thế giới thứ ba. Nhưng một trong những hệ quả rất quan trọng của những cuộc ném bom khốc liệt đó là nó đã sang bằng cán cân lực lượng Bắc Nam. Ở Ba Lê, Hoa Kỳ đã cù cưa tìm cách kéo dài cuộc đàm phán: hứa họp không họp, hứa ký không ký, nay đồng ý với dự thảo mai đòi sửa đổi 126 điểm v.v…Có thể Hoa Kỳ xử sự như một anh cao bồì như Miền Bắc tố cáo, nhưng sự kéo dài đó đã mua thờì gian quý báu cho Miền Nam chuẩn bị về quân sự cũng như chính trị để có thể đạt được mức độ mà Hoa Kỳ có thể tin được là Miền Nam có thể tự mình đối đầu với Miền Bắc mà không cần sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ. Lúc Tiền Sĩ Hưng qua Hoa Thịnh Đốn xin hổ trợ để tiếp tục cuộc chiến, Hoa Kỳ đã đi đến kết luận là Miền Nam đã không đạt được mức độ đó. Và Tiền Sĩ Hưng không có gì mới để làm thay đổi cái kết luận của họ.

III.  VIỆC HOA KỲ RÚT KHỎI VIỆT NAM KHÔNG PHẢI LÀ BẤT NGỜ.

Năm 1949, Mao Trạch Đông (với sự hổ trợ của Liên Xô) đã đánh bại Tưởng Giới Thạch (với sự hổ trợ của Mỹ), chỉ mới có năm năm trước khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm về Sài Gòn chấp chánh với chức vụ thủ tướng của chính phủ Bảo Đại. Điều oái oăm – nhưng có thể hiểu được nếu suy luận trong khuông khổ chính trị quốc tế và an ninh quốc gia – là trong chiến thắng của Mao, công lao của Hoa Kỳ không phải là nhỏ.

Sau ba tháng thăm Liên Xô và trở về, Tưởng bắt đầu ghét Liên Xô và đặc biệt không ưa chánh sách đấu tranh giai cấp của Liên Xô. Khi Tưởng lên cầm quyền thay thế Tôn Dật Tiên năm 1925, ông bỏ đường lối thân Liên Xô. Hoa Kỳ đổ viện trợ vào Trung Hoa và Trung Hoa trở thành một đồng minh quan trọng của Hoa Kỳ. Mối liên kết Mỹ Hoa đó tưởng như không có gì có thề làm gãy đổ được bỡi nó có đủ những yếu tố hỗ trợ cho sự bền vững: Trung Hoa đất rộng người đông, không thích cộng sản, nghi kỵ Liên Xô, thù nghịch với Nhật; nhiệt tình của Hoa Kỳ ủng hộ Tưởng vì ông đã tiếp tục duy trì đường lối thân tây phương. Không những như vậy, vợ của Tưởng, Tống Mỹ Linh, thuộc giáo phái Methodist và chính Tưởng đã cải sang Methodist khi lấy bà, cho nên Tưởng được sự ủng hộ nồng nhiệt của các hội đoàn cơ đốc ở Hoa Kỳ. China Lobby, được thành hình và nhiệt tâm hổ trợ bỡi Henry Luce, thuộc giáo phái Presbyterian và cũng là chủ tuần báo Time, đã vận động quốc hội Hoa Kỳ đổ hàng tỷ đô la (ba tỷ đô la, tiền lúc đó) vào Trung Hoa để đánh Nhật và rất thành công trong việc vận động quốc hội và dư luận Mỹ ủng hộ Tưởng.

Khi Tưởng lên cầm quyền, Chu Ân Lai, lúc đó là tổng thư ký đảng cộng sản Trung Hoa, đang ẩn náu ở Thượng Hải và Mao, vẫn còn dưới quyền Chu, đang cố gắng dành quyền chỉ huy “quân đội” cộng sản, vào khoảng vài ngàn người; trong khi dưới quyền Tưởng có đến mấy triệu quân. Vậy thì làm thế nào Trung Hoa của Tưởng trở thành Trung Hoa của Mao trong vòng chỉ có 24 năm? Và tại sao Hoa Kỳ thay đổi thái độ đối với Tưởng hay đúng ra tại sao một chính quyền thân tây phương và lãnh đạo bỡi một tín đồ thiên chúa giáo mất sự ủng hộ của Hoa Kỳ?

Những diễn biến đáng ghi nhận và có liên quan đến chủ đề của bài viết này được tóm lược như sau:

Trong lúc phe Tưởng và phe Mao (Mao lúc đó đã qua mặt Chu trở thành thủ lãnh của đảng cộng sản Trung Hoa) đang đánh nhau, Tướng George Marshall, sau này là tổng trưởng ngoại giao của Hoa Kỳ, qua thămTrung Hoa – không phải chỉ gặp đồng minh của Hoa Kỳ là Tưởng mà gặp cả Mao. Không những vậy, thái độ của ông thay đổi giữa hai thái cực: khi gặp Tưởng ông tỏ vẻ nghiêm khắc và khó khăn; khi gặp Mao ông hồ hỡi và thân thiện. Mối liên hệ tín cẩn giữa Mỹ và Mao cao độ đến mức Mao từ chối đi tới sứ quán Liên Xô nếu một nhân viên cao cấp của phái bộ Mỹ không cùng đi với ông. (Không phải Mao muốn có bạn đi cho vui mà ông nghi ngờ Liên Xô có ý đồ trên cá nhân ông).

Khi quân Tưởng đánh tan lực lượng của Mao khắp nơi, các đạo quân còn lại của Mao tập trung rút về Mãn Châu. Tưởng đuổi theo, bao vây và sắp tiêu diệt kẻ thù nguy hiểm và dũng mãnh nhất của Trung Hoa Quốc Dân Đảng, thì lực lượng của Mao được cứu thoát – không phải bỡi Liên Xô mà bỡi Hoa Kỳ. Hoa Kỳ yêu cầu Tưởng dừng binh. Tưởng phản đối. Hoa Kỳ dùng áp lực buộc Tưởng phải tuân hành, nhả gọng kềm và cuộc đấu tranh quốc cộng ở Trung Hoa đi vào một bước ngoặc từ đó không còn gì ngăn cản sự thành công của Mao và sự tàn lụi của Tưởng.

Liên Xô lo ngại về vũ khí nguyên tử Mao tích tụ ở Trung Hoa và âm thầm tìm cách hủy diệt. Liên Xô thăm dò Hoa Kỳ và đề nghị hai nước đồng tấn công những cơ sở nguyên tử của Trung Hoa. Hoa Kỳ trả lời một cách rõ ràng không ỡm ờ gì cả: nếu Liên Xô tấn công Trung Hoa, thế chiến thứ ba sẽ xảy ra vì Hoa Kỳ sẽ tấn công Liên Xô.

Những diễn biến đó cho thấy Hoa Kỳ đã thay đổi thái độ và lập trường nhiều lần về Tưởng và về Mao, và không phải lần nào thái độ và lập trường của Hoa Kỳ đều phù hợp với tư cách là một đồng minh của Tưởng*. Sai lầm lớn khi nghĩ rằng tình thân giữa cá nhân của các lãnh tụ, những lời hứa (nhất là có điều kiện kèm theo) là nền tảng của chính sách ngoại giao và quốc phòng của một quốc gia. Sự suy nghĩ và hành động từ quan điểm an ninh quốc gia của Hoa Kỳ đôi khi trùng hợp với quan điểm yêu thượng đế và ghét cộng sản. Nhưng khi an ninh quốc gia bị ảnh hưởng, Hoa Kỳ phải thay đổi đường lối và chính sách. An ninh quốc gia lúc nào cũng chiếm ưu tiên và đứng trên ý thức hệ hoặc tôn giáo.

Và trong trường hợp Trung Hoa trong giai đoạn đó, Hoa Kỳ không thể không bỏ Tưởng và không thể không ve vãn Mao. Vì sao?

Hoa Kỳ đã làm việc với Tưởng nhiều năm và thấy rõ những yếu điểm của Tưởng – những yếu điểm then chốt. Nhiều tướng lãnh, tư lệnh vùng của Tưởng bất tài, tham nhũng tràn lan, nhưng Tưởng từ chối không cách chức, trừng trị kỷ luật, hoặc ngay cả thuyên chuyển. Tưởng không làm gì cả để cải thiện tình hình. Một trường hợp rất khó hiểu liên quan tới tướng Hu Tsung-nan, một tướng rất tín cẩn của Tưởng nhưng lại là cán bộ nằm vùng của Mao (Hu không phải là tướng duy nhất của Tưởng là cán bộ nằm vùng của Mao). Trong 22 năm, tướng Hu đã cứu mạng sống của Mao khi Mao sắp bị bắt bỡi một sĩ quan dưới quyền Hu; báo cho Mao biết trước những cuộc hành quân của Tưởng; thông đồng với Mao để dàn trận phục kích rồi ra lệnh trực tiếp cho sĩ quan và binh sĩ của chính Hu bước vào ổ phục kích đó. Trong nhật ký của ông, Tưởng ước tính là Hu đã làm tiêu tan một phần ba lộ quân dưới quyền chỉ huy của Hu. Nhưng khi Hu xin từ chức, Tưởng từ chối.

Tưởng không nắm vững được nội bộ cũng như sự trung thành của những người dưới quyền mình. Trong một biến cố có thể dựng thành một phim thriller, một thống chế của Tưởng tìm cách bắt cóc Tưởng lúc Tưởng tới thăm ông này. Tưởng bỏ trốn ra một ngọn đồị và khi bị bắt, người chỉ mặc một bộ đồ ngủ, mặt đầy bùn. Mao muốn giết Tưởng, sai Chu bay đi thuyết phục ông thống chế giết Tưởng. (Ai cứu Tưởng? -Liên Xô.  Và Mao không giám trái lệnh Mạc Tư Khoa*).

Những yếu kém đó đã xoi mòn và hủy hoại Trung Hoa của Tưởng. Hoa Kỳ cảm thấy là Tưởng sẽ không tự cường tự lập và đứng vững một mình được. Muốn thắng Mao, Hoa Kỳ không những phải viện trợ cho Tưởng đô la và vũ khí mà có thể phải nhảy vào vòng chiến. Trung Hoa là một nước khổng lồ. Hoa Kỳ có thể kiệt quệ về kinh tế để cung ứng viện trợ cho Tưởng. Thiệt hại về quân sự nếu Hoa Kỳ tham chiến chắc chắn sẽ cao hơn là mức độ có thể chấp nhận được bỡi quốc hội và dân chúng. Và hậu quả không thể đoán trước được.

Trung Hoa có chung biên giới với Liên Xô khoảng 2600 dặm, chưa kể ranh giới giữa Nội Mông (thuộc Trung Hoa) và Ngoại Mông (thuộc Liên Xô). Liên Xô sẽ là hậu cứ dưỡng quân cũng như là nguồn tiếp liệu nhanh chóng và vô tận cho Mao. Tưởng và Hoa Kỳ không có phương cách gì để bịt cái “lỗ hổng” đó. Tưởng chỉ có thua hoặc kéo dài cuộc chiến với sự hổ trợ của Hoa Kỳ vô hạn định về thời gian, về tiền bạc và khí cụ, và về thương vong, một cuộc chiến không một nhà chiến lược nào của Hoa Kỳ có thể chấp nhận để cho Hoa Kỳ tham gia.

Nga Hoa có thể cùng ý thức hệ nhưng không phải là keo sơn gắn bó. Ngay cả khi đang đánh nhau với Tưởng, Mao công khai phản kích Liên Xô. Hoa Kỳ có thể cảm thấy chơi được trò chơi chia để trị. Với ba cường quốc tranh đua nhau, cán cân lực lượng sẽ quân bình hơn và chính trị trong vùng ổn cố hơn. Hoa Kỳ phải tìm cách khai thác sự bất hòa giữa Liên Xô và Mao, ve vãn Mao và muốn một nưóc Trung Hoa mạnh. (Sự ve vãn đó không mang lại kết quả ngay lúc đầu vì Hoa Kỳ không lường được đầu óc mánh khóe và tính toán quỷ quyệt của Mao. Nhưng mầm giống đã gieo, và nhờ đó từ năm 1972, Hoa Kỳ và Trung Hoa trở nên thân thiện và hợp tác với nhau trên nhiều lãnh vực rất hệ trọng cho an ninh quốc gia của cả hai. Những gì Hoa Kỳ đã làm từ năm 1972 cho thấy Hoa Kỳ rất đắt lực và hữu hiệu trong sự giúp đỡ Trung Hoa trở nên giàu mạnh).

Dĩ nhiên chiến trường Việt Nam nhỏ bé hơn, nhưng hình thái về địa lý (của chiến trường) và chính trị giống như một bản sao của cuộc chiến quốc cộng bên Trung Hoa. Trong một cuộc họp giữa Stalin, Mao và Hồ Chí Minh, Liên Xô đã đồng ý giúp Trung Hoa xây dựng những nhà máy kỹ nghệ nặng với điều kiện là Trung Hoa phải viện trợ cho Miền Bắc trong cuộc chiến Việt Nam. (Một điều kiện khác nữa là Trung Hoa phải nhượng đất cho Liên Xô mà sau này Đặng Tiểu Bình cho là sự mất lãnh thổ lớn nhất trong lịch sử Trung Hoa).

Với Việt Nam thay thế Trung Hoa làm bãi chiến trường và Trung Hoa thay Liên Xô làm hậu cứ dưỡng quân, huấn luyện và nguồn tiếp liệu vô tận cho Miền Bắc, từ quan điểm an ninh quốc gia, mối liên hệ của Hoa Kỳ với Việt Nam không khác hơn với Trung Hoa. Hoa Kỷ chỉ có thể cưu mang Miền Nam lâu đủ để tìm một giải pháp ổn thõa và lâu bền hơn, chẳng hạn, thương thảo với Trung Hoa.

Số mệnh của Miền Nam đã đang được định đoạt bỡi các thế lực trên chính trường quốc tế.

Chỉ cần ngó sang nước láng giềng, giới lãnh đạo Việt Nam từ Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho tới Tổng Thống Thiệu phải nhận thức không có gì làm cho Miền Nam quan trọng hơn Trung Hoa và không có gì làm Mỹ sẽ không bỏ Miền Nam. Tổng Thống Diệm có chín năm và Tổng Thống Thiệu có gần 10 năm để chuẩn bị và tăng cường Miền Nam thành một lực lượng đáng kể có thể đứng vững một mình dựa vào chính mình, là một đồng minh tốt và mạnh của Mỹ chớ không phải là một nước dựa và lệ thuộc vào Mỹ.

IV. KHÁI NIỆM AN NINH QUỐC GIA VÀ MIỀN NAM VIỆT NAM.

Lập trường và hành động của Hoa Kỳ trong cuộc chiến quốc cộng bên Trung Hoa đáng lẽ đã tạo nguyên cớ cho giới lãnh đạo Miền Nam phải lưu tâm tới thực tế chính trị quốc tế, là sự hổ trợ của một quốc gia bạn, ngay cả một cường quốc như Hoa Kỳ, phải có giới hạn. Trong chính trường quốc tế, mỗi quốc gia, đại cường hay nhược tiểu, đều phải cật lực phấn đấu cho an ninh của quốc gia mình. Mỗi quốc gia phải lo cho an ninh của quốc gia đó trước. Và mỗi quốc gia phải tự lực cánh sinh trước. Sự giúp đỡ của một nước bạn là để cho mình có cơ hội xây dựng nền móng quốc gia vững chắc và thực lực đủ để mình có thể tự chèo lái con thuyền quốc gia của mình trong đại dương quốc tế. Trông chờ vào nước bạn để cõng mình đi là một ảo giác mà giới lãnh đạo của một quốc gia không có quyền có.

Ngay từ đầu cuộc chiến ở Đông Dương, Hoa Kỳ đã không muốn dính dấp vào, tuy Tổng Thống Roosevelt đã chỉ trích Pháp và bênh vực Đông Dương (“France has milked it for one hundred years. The people of Indochina are entitled to something better than that.”). Ngay cả khi Pháp thấy sắp thất thủ ở Điện Biên Phủ đã khẩn cầu Mỹ can thiệp bằng không quân để cứu vãn tình hình, nhưng Tổng Thống Eisenhower từ chối. Chúng ta có thể đoán, không phải là không có cơ sở, là năm 1955 Mỹ bị bắt buộc phải nhảy vào Việt Nam là vì Pháp đang bị đẩy ra khỏi Việt Nam vì quá yếu, trong lúc cộng sản Trung Hoa hung hăng muốn bành trướng thế lực nhất là khi họ khuyến khích Bắc Hàn tấn công Nam Hàn, rồi sau đó nhảy vào vòng chiến trực diện với quân lực Mỹ. Năm 1972, khi Chu nhận xét là Hoa Kỳ đã vào Việt Nam “by accident”, Tổng Thống Nixon không đính chính (trích dẫn TTTTT).

Năm 1971, hay ít nhất là từ đầu năm 1972, có rất nhiều dấu hiệu cho thấy tình hình biến chuyển không thuận lợi cho Miền Nam. Áp lực chính trị nội bộ của Hoa kỳ làm cho giải pháp quân sự của Hoa Kỳ ở Việt Nam không còn thực tế. Khi quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa bắt đầu cởi mở, đối với Hoa Kỳ, cơ hội thương thuyết đã đến. Trong cố gắng thương thuyết và cố gắng đem Miền Bắc vào bàn thương thuyết, Kissinger đã nói những câu khơi mào báo hiệu điềm gỡ cho Miền Nam: Với Chu: “Nếu chúng tôi (Hoa Kỳ) có thể sống với một chính phủ cộng sản ở Trung Hoa thì chúng tôi cũng có thể chấp nhận nó ở Đông Dương/If we can live with a communist government in China, we ought to be able to accept it in Indochina.”, “Chúng tôi không muốn họ (Miền Bắc) yếu đi/We don’t want them to be weak.”, và “chúng tôi muốn chấm dứt chiến tranh vì bây giờ nó đòi hỏi một nổ lực không tương xứng với mục tiêu và vì nó liên hệ chúng tôi vào những cuộc đàm phán với những quốc gia mà chúng tôi có những vụ việc quan trọng hơn rất nhiều/we want to end the war because it now requires an effort out of proportion to the objectives and because it involves us in discussions with countries with whom we have much more important business.” Với ngoại trưởng Liên Xô Gromyko: “chúng tôi sẵn sàng rời bỏ (Miền Nam) trong cách thức mà sự chiến thắng của cộng sản không bị loại trừ/we are prepared to leave so that a communist victory is not excluded.” (phần Anh Ngữ được trích dẫn từ cuốn TTTTT của Giáo Sư Hưng).

Và như đã nói trên, Hoa Kỳ không bỏ đi “ngày một ngày hai”, mà Miền Nam có đến gần ba năm để chuẩn bị.

V. NHÌN LẠI 56 NĂM.

Trong cùng cuộc gặp gỡ nói trên, Tiền Sĩ Hưng hỏi tôi “Mình có thể làm được gì?” để không mất Miền Nam. Tiến Sĩ Hưng có vẻ đã nghiền ngẫm câu hỏi này từ lâu và “think out loud” mỗi khi có cơ hội, và vì bất ngờ tôi không nói được gì cả. Nhưng nếu có một ý niệm thấu đáo về an ninh quốc gia, câu trả lời rất là hiển nhiên: câu hỏi của Tiền Sĩ Hưng (và tôi chắc rất nhiều người đã hỏi câu này sau tháng tư 1975) được đặt ra 56 năm, hoặc 43 năm, hoặc 42 năm, hoặc 38 năm quá muộn.

Nó đáng lẽ phải được đặt ra khi Thủ Tướng Diệm lên cầm quyền năm 1954, hoặc khi Trung tướng Thiệu trở thành Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia năm 1967. Hoặc chậm lắm là vào năm 1968, khi Hoa kỳ đồng ý ngồi chiếu trên với Miền Bắc và để VNCH ngồi với MTGPMN, hay năm 1972, khi những dấu hiệu trở nên rõ ràng là Hoa Kỳ muốn rút ra khỏi Miền Nam. Và Miền Nam đáng lẽ phải khẫn thiết tự hỏi “Chúng ta phải làm gì” để tạo cho Miền Nam một thế lực, một chân đứng như một hòn núi mà sự hiện diện của nó phải được thừa nhận và những thay đổi trên trường chính trị quốc tế không bứng nó đi được.

Nếu câu hỏi đặt ra đúng lúc, Miền Nam chắc chắn tìm được câu trả lời và đủ thời gian dốc toàn lực và ý chí để thực thi một chính sách quốc phòng hữu hiệu. Định mệnh của Miền Nam chắc chắn đã ở trong tay người dân và chính quyền Miền Nam, và được định đoạt không phải ở Hoa Thịnh Đốn, Ba Lê, Bắc Kinh hay Mạc Tư Khoa, mà ở Sài Gòn.

Luật Sư JOHN P. LÊ PHONG

_______________________________________________________________

* Việc Liên Xô thay đổi thái độ lúc hổ trợ Mao lúc hổ trợ Tưởng giống như Hoa Kỳ, là bằng chứng rõ rệt định luật “an ninh quốc gia đứng trên đồng minh” là định luật chung cho mọi quốc gia. Một quốc gia sẽ thay đổi và phải thay đổi đồng minh khi an ninh quốc gia đòi hỏi.

BÀN VỀ NGÔN NGỮ

BÀN VỀ NGÔN NGỮ
(Và Tiếng Việt)

Một học giả Việt Nam, tôi không nhớ rõ là Phạm Quỳnh hay Nguyễn Văn Vĩnh (hay một học giả khác) đã nhận định là: “Tiếng Việt còn là nước ta còn”. Ngôn ngữ biểu tượng cá tánh và đặc thù của một quốc gia. Cho nên nó có tính cách thiêng liêng đối với một số công dân sẵn sàng bất bình khi thấy ngôn ngữ, nói cũng như viết, được xử dụng một cách không nghiêm trang hoặc khi họ cảm thấy có sự pha trộn, thiếu thuần tuý.

Trên bình diện quốc gia, nhiệt tình đó còn cao hơn, quyết liệt hơn trong việc bảo vệ cái thuần tuý cuả ngôn ngữ. Khi nói về vấn đề này, quốc gia đầu tiên phải nghĩ tới là nước Pháp.

Tiếng Pháp từ lâu được thừa nhận là một trong những ngôn ngữ rõ ràng và chính xác nhất. Vì vậy tiếng Pháp là một trong số rất ít ngôn ngữ được dùng để thảo các văn kiện quốc tế. Tôi có nghe một giai thoại về thạc sĩ Phạm Duy Khiêm. Một viên chức người Pháp tới gặp thạc sĩ Khiêm ở Paris. Ông người Pháp này, ở tại Paris, chỉ nói có mấy câu thì bị thạc sĩ Khiêm cắt lời bảo về học lại tiếng Pháp cho chính xác nếu muốn nói chuyện với thạc sĩ Khiêm. Tôi chưa bao giờ có cơ hội kiểm chứng câu chuyện này, nghe có vẻ huyền thoại hơn là xác thực, nhưng nó nhấn mạnh một điểm là cấu trúc của tiếng Pháp tinh vi và khó.

Sự tinh vi và khó khăn đó đã trở thành cái yếu điểm của tiếng Pháp. Thống kê năm 1997 cho thấy là 40% các văn kiện tại Ủy Ban Âu Châu (European Commission) viết bằng tiếng Pháp (so với 45% bằng tiếng Anh). Năm 2006, tỷ lệ xuống còn 14% tiếng Pháp (72% tiếng Anh). Tới năm 2009, tiếng Pháp chỉ còn 11%. Hầu hết trên thế giới, ngoài nước Pháp, chỉ có ở Quebec là tiếng Pháp còn giữ được vai trò thượng tôn.

Nước Pháp đã cố gắng rất nhiều để bảo vệ tiếng Pháp và mở rộng sự xử dụng tiếng Pháp, và cơ quan lãnh trọng trách khó khăn này là Hàn Lâm Viện Pháp (HLVP – Academie Francaise). Nhưng họ không mấy thành công. Nguyên nhân của sự không thành công này có thể tìm thấy từ nhận định của Hubert Highet: “Language is a living thing. We can feel it changing. Parts of it become old: they drop off and are forgotten. New pieces bud out, spread into leaves, and become big branches, proliferating.”

Ngôn ngữ được định nghĩa là dấu hiệu hoặc cách thức dùng để diễn đạt tư tưởng hoặc cảm nghĩ. Với sự phát triển nhanh chóng về mọi phương diện trong thế giới nói tiếng Anh, nhất là Hoa Kỳ, những từ ngữ mới để diễn đạt những khái niệm mới thành hình hằng ngày. Cố gắng của HLVP chỉ là chạy theo. Một trong những cái bất tiện của sự chạy theo là thường thường chạy theo không kịp. Vừa tìm kiếm được chữ “courriel” (“courrier electronique”) để khuyến khích dân Pháp dùng thế cho “email”, thì chữ “networking” xuất hiện. HLVP muốn dùng chữ “travail en reseau” để thế cho chữ “networking” nhưng người Pháp chỉ muốn dùng chữ networking. Chính người Pháp cũng thích dùng “weekend”, “casting”, “smartphone”, “email” … hơn là “fin de semaine”, “passer une audition”, “telephone intelligent”, “courriel” v.v… là vì những từ Anh chính xác hơn, dễ dùng hơn và được dùng khắp thế giới.

Thái độ cứng rắn của HLVP có lẽ xuất phát từ sự kiêu hãnh của văn hóa Pháp, hay đúng ra của những nhà hàn lâm thủ cựu. Vì vậy, vào năm 2010, HLVP bắt đầu từ chối không nhận hội viên mới trên 75 tuổi. Sự thay đổi này xác nhận nhận thức của Highet: nếu không thay đổi hay mô phỏng, ngôn ngữ sẽ “già” đi; thiện ý muốn bảo tồn tiếng nói, ngôn ngữ của dân tộc hóa ra là gây tai hại cho ngôn ngữ, tiếng nói của mình. Cũng có thể, HLVP bớt đối kháng khi nhớ ra là có tới 45% tiếng Anh là người Anh rất vui vẻ “mượn” từ tiếng Pháp. Những từ như “au pair”, “à la carte”, “menu”, “cafe”, “hors d’oevre” etc. lúc đầu được dùng bỡi giới quý tộc để phân biệt high class với giới bình dân. Bây giờ những từ này, và rất nhiều những từ ngữ Pháp khác nữa, được dùng trong đời sống hằng ngày.
Trong tiếng Việt, chữ “Phở”, cùng với chữ “Tết”, có lẽ là những danh từ phổ thông nhất và rất dễ nhận ra nhất là đặc thù của Việt Nam. Nhưng tiến sĩ Nguyễn Hữu Phước cho là chữ “Phở” có gốc chữ Hán hoặc tiếng Pháp. Trong cuốn Tiếng Việt Đa Dạng, ông trích dẫn học giả Lê Ngọc Trụ cho rằng chữ phở bắt nguồn từ chữ Hán “Phảnh” và đọc trại ra thành phở. Nhưng ông cũng dẫn ra một nguồn khác với một lý thuyết khác rất thích thú là chữ phở là từ chữ “Feu” mà ra, “pot au feu” hoặc “boeuf au feu”. Nếu phát âm là bằng chứng quan trọng nhất để giải quyết vấn đề này thì chữ “Feu” mạnh thế hơn nhiều so với chữ “Phảnh”. Khi đọc cuốn thứ nhì của ông, “Tiếng Việt Gốc Ngoại Quốc”, người đọc có cảm tưởng tiếng Việt mượn từ chữ Hán chắc còn nhiều hơn 45%, có thể đến 90%.
Tiếng Việt mô phỏng theo tiếng Pháp cũng rất là nhiều. “Cà phê”, “bê tông”, “cao su”, “ki lô”, v.v… Những từ ngữ này lại phát sinh ra những từ ngữ kép với ý nghĩa khác hẳn: “giờ cao su”, “anh này coi vậy nhưng không có kí lô nào cả” v.v… Những từ này sau một thời gian xử dụng trong dân gian và dần dà được sự chấp nhận của giới trí thức, đã trở thành tiếng Việt.
Thái độ muốn bảo tồn sự “thuần tuý” của tiếng Việt và chống đối những từ mượn từ những văn hóa khác ngôn ngữ khác, bị dè bĩu là “lai căng”, là trở ngại rất lớn trong những cố gắng làm giảu hoặc phát huy Việt ngữ.
Rất nhiều người phản đối chữ “bảy úp” (seven up). Nhưng với sự xử dụng rất thông thường ở Việt Nam, tôi có cảm giác “bảy úp”, cũng như “tối dạ”, sẽ được chấp nhận trong Việt ngữ. Chữ “tối dạ”, có lẽ phát xuất từ trong quân đội. Khi nói chuyện với người đối diện có súng hoặc một quả lưụ đạn trong tay, thì phải rất là cẩn thận khi dùng chữ “ngu”. Chữ “tối dạ” là một từ Việt ngữ rất xúc tích. Thay câu “mày sao ngu thế” hoặc “sao anh ngu thế” bằng câu “mày sao tối dạ thế” hoặc “sao anh tối dạ thế” vừa tránh được nguy hiểm lại vừa biểu lộ sự thân tình.
Tới đây tôi nhớ tới cái post của một học giả về chữ “dòng” hay “giòng”. Sự phân tách trong bài viết của ông cho thấy sự cần thiết của một trọng tài tương tự như HLVP. Một cơ quan như vậy sẽ giúp cho Việt ngữ giữ được sự đồng nhất và tránh được sự mơ hồ trong ý nghĩa.

Luật Sư JOHN P. LE PHONG