BÀN VỀ NGÔN NGỮ

BÀN VỀ NGÔN NGỮ
(Và Tiếng Việt)

Một học giả Việt Nam, tôi không nhớ rõ là Phạm Quỳnh hay Nguyễn Văn Vĩnh (hay một học giả khác) đã nhận định là: “Tiếng Việt còn là nước ta còn”. Ngôn ngữ biểu tượng cá tánh và đặc thù của một quốc gia. Cho nên nó có tính cách thiêng liêng đối với một số công dân sẵn sàng bất bình khi thấy ngôn ngữ, nói cũng như viết, được xử dụng một cách không nghiêm trang hoặc khi họ cảm thấy có sự pha trộn, thiếu thuần tuý.

Trên bình diện quốc gia, nhiệt tình đó còn cao hơn, quyết liệt hơn trong việc bảo vệ cái thuần tuý cuả ngôn ngữ. Khi nói về vấn đề này, quốc gia đầu tiên phải nghĩ tới là nước Pháp.

Tiếng Pháp từ lâu được thừa nhận là một trong những ngôn ngữ rõ ràng và chính xác nhất. Vì vậy tiếng Pháp là một trong số rất ít ngôn ngữ được dùng để thảo các văn kiện quốc tế. Tôi có nghe một giai thoại về thạc sĩ Phạm Duy Khiêm. Một viên chức người Pháp tới gặp thạc sĩ Khiêm ở Paris. Ông người Pháp này, ở tại Paris, chỉ nói có mấy câu thì bị thạc sĩ Khiêm cắt lời bảo về học lại tiếng Pháp cho chính xác nếu muốn nói chuyện với thạc sĩ Khiêm. Tôi chưa bao giờ có cơ hội kiểm chứng câu chuyện này, nghe có vẻ huyền thoại hơn là xác thực, nhưng nó nhấn mạnh một điểm là cấu trúc của tiếng Pháp tinh vi và khó.

Sự tinh vi và khó khăn đó đã trở thành cái yếu điểm của tiếng Pháp. Thống kê năm 1997 cho thấy là 40% các văn kiện tại Ủy Ban Âu Châu (European Commission) viết bằng tiếng Pháp (so với 45% bằng tiếng Anh). Năm 2006, tỷ lệ xuống còn 14% tiếng Pháp (72% tiếng Anh). Tới năm 2009, tiếng Pháp chỉ còn 11%. Hầu hết trên thế giới, ngoài nước Pháp, chỉ có ở Quebec là tiếng Pháp còn giữ được vai trò thượng tôn.

Nước Pháp đã cố gắng rất nhiều để bảo vệ tiếng Pháp và mở rộng sự xử dụng tiếng Pháp, và cơ quan lãnh trọng trách khó khăn này là Hàn Lâm Viện Pháp (HLVP – Academie Francaise). Nhưng họ không mấy thành công. Nguyên nhân của sự không thành công này có thể tìm thấy từ nhận định của Hubert Highet: “Language is a living thing. We can feel it changing. Parts of it become old: they drop off and are forgotten. New pieces bud out, spread into leaves, and become big branches, proliferating.”

Ngôn ngữ được định nghĩa là dấu hiệu hoặc cách thức dùng để diễn đạt tư tưởng hoặc cảm nghĩ. Với sự phát triển nhanh chóng về mọi phương diện trong thế giới nói tiếng Anh, nhất là Hoa Kỳ, những từ ngữ mới để diễn đạt những khái niệm mới thành hình hằng ngày. Cố gắng của HLVP chỉ là chạy theo. Một trong những cái bất tiện của sự chạy theo là thường thường chạy theo không kịp. Vừa tìm kiếm được chữ “courriel” (“courrier electronique”) để khuyến khích dân Pháp dùng thế cho “email”, thì chữ “networking” xuất hiện. HLVP muốn dùng chữ “travail en reseau” để thế cho chữ “networking” nhưng người Pháp chỉ muốn dùng chữ networking. Chính người Pháp cũng thích dùng “weekend”, “casting”, “smartphone”, “email” … hơn là “fin de semaine”, “passer une audition”, “telephone intelligent”, “courriel” v.v… là vì những từ Anh chính xác hơn, dễ dùng hơn và được dùng khắp thế giới.

Thái độ cứng rắn của HLVP có lẽ xuất phát từ sự kiêu hãnh của văn hóa Pháp, hay đúng ra của những nhà hàn lâm thủ cựu. Vì vậy, vào năm 2010, HLVP bắt đầu từ chối không nhận hội viên mới trên 75 tuổi. Sự thay đổi này xác nhận nhận thức của Highet: nếu không thay đổi hay mô phỏng, ngôn ngữ sẽ “già” đi; thiện ý muốn bảo tồn tiếng nói, ngôn ngữ của dân tộc hóa ra là gây tai hại cho ngôn ngữ, tiếng nói của mình. Cũng có thể, HLVP bớt đối kháng khi nhớ ra là có tới 45% tiếng Anh là người Anh rất vui vẻ “mượn” từ tiếng Pháp. Những từ như “au pair”, “à la carte”, “menu”, “cafe”, “hors d’oevre” etc. lúc đầu được dùng bỡi giới quý tộc để phân biệt high class với giới bình dân. Bây giờ những từ này, và rất nhiều những từ ngữ Pháp khác nữa, được dùng trong đời sống hằng ngày.
Trong tiếng Việt, chữ “Phở”, cùng với chữ “Tết”, có lẽ là những danh từ phổ thông nhất và rất dễ nhận ra nhất là đặc thù của Việt Nam. Nhưng tiến sĩ Nguyễn Hữu Phước cho là chữ “Phở” có gốc chữ Hán hoặc tiếng Pháp. Trong cuốn Tiếng Việt Đa Dạng, ông trích dẫn học giả Lê Ngọc Trụ cho rằng chữ phở bắt nguồn từ chữ Hán “Phảnh” và đọc trại ra thành phở. Nhưng ông cũng dẫn ra một nguồn khác với một lý thuyết khác rất thích thú là chữ phở là từ chữ “Feu” mà ra, “pot au feu” hoặc “boeuf au feu”. Nếu phát âm là bằng chứng quan trọng nhất để giải quyết vấn đề này thì chữ “Feu” mạnh thế hơn nhiều so với chữ “Phảnh”. Khi đọc cuốn thứ nhì của ông, “Tiếng Việt Gốc Ngoại Quốc”, người đọc có cảm tưởng tiếng Việt mượn từ chữ Hán chắc còn nhiều hơn 45%, có thể đến 90%.
Tiếng Việt mô phỏng theo tiếng Pháp cũng rất là nhiều. “Cà phê”, “bê tông”, “cao su”, “ki lô”, v.v… Những từ ngữ này lại phát sinh ra những từ ngữ kép với ý nghĩa khác hẳn: “giờ cao su”, “anh này coi vậy nhưng không có kí lô nào cả” v.v… Những từ này sau một thời gian xử dụng trong dân gian và dần dà được sự chấp nhận của giới trí thức, đã trở thành tiếng Việt.
Thái độ muốn bảo tồn sự “thuần tuý” của tiếng Việt và chống đối những từ mượn từ những văn hóa khác ngôn ngữ khác, bị dè bĩu là “lai căng”, là trở ngại rất lớn trong những cố gắng làm giảu hoặc phát huy Việt ngữ.
Rất nhiều người phản đối chữ “bảy úp” (seven up). Nhưng với sự xử dụng rất thông thường ở Việt Nam, tôi có cảm giác “bảy úp”, cũng như “tối dạ”, sẽ được chấp nhận trong Việt ngữ. Chữ “tối dạ”, có lẽ phát xuất từ trong quân đội. Khi nói chuyện với người đối diện có súng hoặc một quả lưụ đạn trong tay, thì phải rất là cẩn thận khi dùng chữ “ngu”. Chữ “tối dạ” là một từ Việt ngữ rất xúc tích. Thay câu “mày sao ngu thế” hoặc “sao anh ngu thế” bằng câu “mày sao tối dạ thế” hoặc “sao anh tối dạ thế” vừa tránh được nguy hiểm lại vừa biểu lộ sự thân tình.
Tới đây tôi nhớ tới cái post của một học giả về chữ “dòng” hay “giòng”. Sự phân tách trong bài viết của ông cho thấy sự cần thiết của một trọng tài tương tự như HLVP. Một cơ quan như vậy sẽ giúp cho Việt ngữ giữ được sự đồng nhất và tránh được sự mơ hồ trong ý nghĩa.

Luật Sư JOHN P. LE PHONG

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

18 − eleven =