TÂM TƯ CỦA MỘT NGƯỜI VIỆT SỐNG Ở MIỀN NAM TRƯỚC NĂM 1975 (Nhân đọc “Tâm Tư Tổng Thống Thiệu)

̣(Tôi có hân hạnh được gặp và nói chuyện với Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng, Tổng Trưởng Kế Hoạch dưới thời chính Phủ Nguyễn Văn Thiệu, khi ông đến California để ra mắt cuốn sách mới của ông “Tâm Tư Tổng Thống Thiệu”. Sau khi đọc xong cuốn sách này, tôi đã viết bài bình luận được đăng lại sau đây. Sau khi viết xong, và trước khi cho luân lưu trong một số it́ thân hữu ở Orange County, miền nam California, tôi có đưa cho Tiến Sĩ Hưng xem trước để lấy ý kiến của ông. Nhưng, ông không bình phẩm gì cả.

LS John P. Lê Phong)

TÂM TƯ CỦA MỘT NGƯỜI VIỆT SỐNG Ở MIỀN NAM TRƯỚC NĂM 1975

(Nhân đọc “Tâm Tư Tổng Thống Thiệu)

I. DẪN NHẬP.

Rất nhiều câu hỏi được đặt ra và rất nhiều sách được viết về cuộc chiến Việt Nam, nhưng chưa có câu trả lời nào giải tỏa được cái ưu tư ray rức nhất của người Việt sống ở Miền Nam trước năm 1975, trong sự tìm kiếm nguyên nhân nào đã đưa miền Nam Việt Nam đến biến cố tháng tư năm 1975. Câu trả lời thõa đáng sẽ là bài học cho các thế hệ người Việt sau này muốn xây dựng nước và giữ nước.

Ba cuốn sách của nguyên Tổng Trưởng Kế Hoạch của ba năm cuối của thời đệ nhị cộng hoà Miền Nam Việt Nam, Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng, nhất là cuốn thứ hai, “Khi Đồng Minh Tháo Chạy”, có vẻ coi sự rút quân và cắt viện trợ của Hoa Kỳ là nguyên nhân chính gây nên sự sụp đổ của Nam Việt Nam.

Những cuốn sách của Giáo Sư Hưng rất quý giá. Những tài liệu trích dẫn rất đầy đủ và công phu. Có những cuốn hồi ký khác cũng chứa đựng rất nhiều dữ kiện ghi lại do những người trong cuộc viết rất có giá trị về phương diện sử liệu liên hệ tớí một khía cạnh của cuộc chiến chẳng hạn một trận đánh. Nhưng những cuốn sách của Giáo Sư Hưng cho người đọc một cáí nhìn rộng rãi và toàn diện hơn về cuộc chiến.

Trong cuốn Tâm Tư Tổng Thống Thiệu (TTTTT), cũng như trong lần tôi được gặp ông ở Garden Grove, Tiền Sĩ Hưng bày tỏ hy vọng là những cuốn sách của ông giúp được cho các thế hệ tương lai hiểu cặn kẽ và chính xác giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến Việt Nam và nhất là những gì đã xảy ra trong mối liên hệ đồng minh giữa Sài Gòn và Hoa Thịnh Đốn. Ba cuốn sách đã xuất bản là chứng liệu Tiến Sĩ Hưng đã bỏ nhiều công phu và thì giờ để hoàn thành ước nguyện đó và đã rất thành công.

Công trình của ông cũng giúp cho người đọc có nhiều dữ kiện vững chắc để có thể rút ra kết luận về những biến chuyển quan trọng liên quan tới cuộc chiến Việt Nam. Và dù cho một kết luận có khác với chủ đề của cuốn sách của Tiến Sĩ Hưng, kết luận đó không làm giảm giá trị sử liệu của công trình quý giá của ông.

II. ĐỒNG MINH HOA KỲ CÓ THÁO CHẠY HAY KHÔNG?

Dĩ nhiên là không.

Nếu hiểu đúng nghĩa đồng minh là gì. Không phải là đồng chí hay ngay cả đồng đội. Mà là một sự liên kết giữa một nhóm thế lực để chống lại một thế lực hoặc một nhóm thế lực khác. Trên bình diện quốc tế, “đồng minh” dính liền với “an ninh quốc gia”. Hoa Kỳ “đồng minh” vớí Việt Nam là vì nền an ninh cuả Hoa Kỳ đòi hỏi họ phảỉ liên kết với Việt Nam. Khi sự liên kết đe dọa hoặc có hại cho nền an ninh của Hoa Kỳ, Hoa Thinh Đốn phải tìm cách tháo gỡ sự liên kết đó, nhất là, như sẽ phân tách dưới đây, sự liên kết của  Hoa Kỳ với Miền Nam Việt Nam chỉ là một giải pháp tạm thời. Khi hoàn cảnh ảnh hưởng tới nền an ninh của Hoa Kỳ, Tổng Thống Nixon hay Ford phải làm nhiệm vụ của họ đối với dân và nước Mỹ, chớ không phải lo giữ lời hứa với Tổng Thống Thiệu, nhất là khi đọc cho kỹ những lời hứa, sẽ thấy có những điều kiện đi kèm với lời hứa (chẳng hạn “khi hoàn cảnh đòi hỏi và luật lệ cho phép”) làm cho sự “tháo chạy” của Hoa Kỳ không phải là thất hứa. Mất Miền Nam phần lớn là do giới lãnh đạo Miền Nam đã hiểu sai ý nghĩa của khái niệm “đồng minh” là sống chết có nhau. Sự sai lầm đó đưa tới Miền Nam nương tựa hoàn toàn vào Hoa Kỳ, thiếu chuẩn bị và yếu kém về nhiều phương diện khi Hoa Kỳ rút lui.

Thử phân tách một phương diện: Ngoại Giao và chuyến đi du thuyết của Giáo Sư Hưng. Trong tình trạng Miền Bắc chiếm thượng phong và Miền Nam đang mất đất và mất thế chủ động (dù rằng trận địa chiến là sở trường của quân đội Miền Nam), thì câu hỏi phải được đặt ra là phương lược của Miền Nam sau khi thất thủ Ban Mê Thuột là gì? Khi Tổng Thống Thiệu cầm cây viết chì kéo một đường dài trên bản đồ, ông và ban tham mưu của ông có kế sách và lực lượng gì để biến con đường bút chì đó thành một chiến lũy chớ không phải là một ước mơ?

Có nhiều lập luận cho rằng giới lãnh đạo của Miền Nam hiểu rõ tình hình và tinh thần cũng như khả năng chiến đấu cuả quân đội cộng hòa, chứng tỏ một cách dũng cảm trong trận An Lộc; chỉ cần Mỹ giúp cho phương tiện là có thể lật ngược thế cờ. Đó chính là sứ mệnh của Tiền Sĩ Hưng được Tổng Thống Thiệu đặt phái qua Hoa Thịnh Đốn để xin viện trợ 300 triệu đô la. Nhưng giới lãnh đạo Mỹ không “mua” cái lập luận đó. Có thể là vì người Mỹ, cả chính giới và dân chúng, không hiểu rõ tiềm năng của Miền Nam bằng giới lãnh đạo Miền Nam. Chính vi vậy muốn thuyết phục quốc hội Hoa Kỳ chi viện thêm, chính quyền Miền Nam phải làm việc cật lực hơn, cố gắng hơn để tỏ rõ ý chí quyết tâm chuẩn bị đánh để thắng; phải cử một phái đoàn chớ không phải chỉ có một tổng trưởng, dù là tổng trưởng kế hoạch, và phải trang bị cho các sứ giả của mình thật đầy đủ khí cụ để hoàn thành cái sứ mệnh gần như tuyệt vọng, vì lúc đó Hoa Kỳ đã cắt viện trợ rồi.

Trong những ngày tháng nguy kịch đó, yếu tố quân sự là tất cả. Liệu câu trả lời nào của Giáo Sư Hưng có liên quan tới vấn đề quân sự đủ nặng ký để thuyết phục quốc hội Mỹ mà phần lớn các dân biểu và nghị sĩ đang nghi ngờ là Miền Nam không thể thắng được? Cử một nhân viên dân chính không phải là một chuyên viên quân sự cán đáng trọng trách đó chỉ làm cho Hoa Thịnh Đốn nghĩ là chính phủ Miền Nam không nghiêm trang, hoặc tệ hơn nữa, có vẻ bấn loạn. Sự thất bại cuả Giáo Sư Hưng coi như tiền định.

Quan trọng hơn nữa, khi cử Giáo Sư Hưng sang Hoa Thịnh Đốn, chính phủ Miền Nam đã trang bị cho ông những luận cứ và dữ kiện gì để cho ông có thể thuyết phục được giới lãnh đạo Hoa Kỳ thay đổi quyết định của họ? Ông có trình bày cho Hoa Thịnh Đốn rõ Miền Bắc có bao nhiêu sư đoàn đang hoạt động ở Miền Nam (theo các sử liệu sau năm 1975, Miền Bắc đã đưa từ 9 tớí 15 sư đoàn vào tham chiến ở Miền Nam)?  Chính phủ VNCH có tin tình báo hay dự đoán được sự điều động của các sư đoàn đó như thế nào (3 sư đoàn đã nằm sẵn ở miền Tây cắt đứt đường liên lạc về lục tỉnh; đường đi về Vũng Tàu Bà Rịa bị chận đứng; một đạo quân Miền Bắc đang di chuyển từ Nha Trang Bình Thuận về Sài Gòn dọc theo duyên hảỉ; các sư đoàn Bắc Việt sau các trận Ban Mê Thuột, Kontum và Pleiku đang đổ xuống từ cao nguyên hướng về Sài Gòn)? Lực lượng của Miền Nam còn lại bao nhiêu và đang được điều động như thế nào để đương đầu với lực lượng Miền Bắc, ngoài tướng Lê Minh Đảo và các chiến sĩ anh dũng của ông đang tử thủ ở Xuân Lộc? Trong những cuốn sách của Giáo Sư Hưng không thấy nói là ông có trình bày và bàn thảo với chính giới Hoa Kỳ về những vấn đề này và những giải pháp được đề nghị.

Nhưng Hoa Thịnh Đốn đã có những hiểu biết đó cho nên mới quyết định chấm dứt chiến tranh bằng cách chấm dứt viện trợ. Cảm nghĩ của Giáo Sư Hưng, dựa vào những nhận xét như Tổng Thống Thiệu bí mật triệu tập một hội nghị ở Cam Ranh với hai tướng lãnh khác, di chuyển dần dần đường ranh giới sâu vào trong nam, và Tổng Thống Thiệu khen một món ăn ngon ở miền Tây, là Tổng Thống muốn đánh cho tới cùng, nếu cần sẽ rút về miền Tây (trong khi ba sư đoàn của Miền Bắc đã dàn trận chận đường rút).

Tuy nhiên Hoa Thịnh Đốn nhìn sự việc một cách khác hẳn: dựa vào điều kiện chiến trường theo sự hiểu biết của họ, và sự hiểu biết của họ rất gần vớí thực tế, quyết tâm của Tổng Thống Thiệu và các tướng lãnh như tướng Lê Minh Đảo, chỉ làm thiệt hại thêm nhân lực mà không thể thay đổi cục diện chiến trường. Đối vớí người Mỹ, vấn đề không phải là Miền Nam có thể cầm cự được thêm một thời gian nếu có thêm tiền viện trợ mà là cái kết luận của họ là Miền Nam không thể thắng được. Vì vậy khi từ chối chi viện thêm 300 triệu đô la, không phải họ “bỏ chạy” mà vì họ thấy không nghĩa lý. Để làm gì? Trừ khi Giáo Sư Hưng trình bày được những bằng chứng cụ thể là cái kết luận đó sai. Rõ ràng Giáo Sư Hưng, ngay cả Tổng Thống Thiệu, đã không đưa ra được dữ kiện hoặc chương trình hành động gì để thuyết phục được Hoa Thịnh Đốn là họ sai.

It nhất là từ tháng hai năm 1972, Hoa Kỳ bắt đầu thay đổi sách lược về cuộc chiến ở Việt Nam (xem biên bản cuộc họp của Tổng Thống Nixon và Thủ Tướng Chu Ân Lai vào tháng hai năm 1972 và biên bản cuộc họp của Tiến Sĩ Kissinger và Chu vào tháng sáu 1972 được in lại trong cuốn TTTTT cuả Giáo Sư Hưng). Và là một sự thay đổi định mệnh: Hoa Kỳ sẵn sàng rút hết quân ra khỏi Việt Nam và chấm dứt viện trợ.

Nhưng không phải vì vậy mà Hoa Kỳ bỏ ngang Miền Nam. Hoa Kỳ liên tục gia tăng áp lực quân sự cả Miền Nam lẫn Miền Bắc bằng những cuộc dội bom trải thảm, thả mìn,  thủy lôi ở các cửa biển, phát động chiến dịch khủng khiếp Linebacker II. Tất cả các hoạt động quân sự đó có vẻ vô nghĩa (vì Hoa Kỳ đã có ý định rút ra khỏi Việt Nam và, như ghi nhận dưới đây, không muốn làm cho Việt Nam [Miền Bắc] yếu đi) nếu không nhằm mục tiêu giúp Miền Nam. Có thể Hoa kỳ muốn phô trương lực lượng cho thế giới thấy tiềm năng hủy diệt của Hoa Kỳ không giảm sút sau chiến tranh Việt Nam và dằng mặt những anh hùng rơm của thế giới thứ ba. Nhưng một trong những hệ quả rất quan trọng của những cuộc ném bom khốc liệt đó là nó đã sang bằng cán cân lực lượng Bắc Nam. Ở Ba Lê, Hoa Kỳ đã cù cưa tìm cách kéo dài cuộc đàm phán: hứa họp không họp, hứa ký không ký, nay đồng ý với dự thảo mai đòi sửa đổi 126 điểm v.v…Có thể Hoa Kỳ xử sự như một anh cao bồì như Miền Bắc tố cáo, nhưng sự kéo dài đó đã mua thờì gian quý báu cho Miền Nam chuẩn bị về quân sự cũng như chính trị để có thể đạt được mức độ mà Hoa Kỳ có thể tin được là Miền Nam có thể tự mình đối đầu với Miền Bắc mà không cần sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ. Lúc Tiền Sĩ Hưng qua Hoa Thịnh Đốn xin hổ trợ để tiếp tục cuộc chiến, Hoa Kỳ đã đi đến kết luận là Miền Nam đã không đạt được mức độ đó. Và Tiền Sĩ Hưng không có gì mới để làm thay đổi cái kết luận của họ.

III.  VIỆC HOA KỲ RÚT KHỎI VIỆT NAM KHÔNG PHẢI LÀ BẤT NGỜ.

Năm 1949, Mao Trạch Đông (với sự hổ trợ của Liên Xô) đã đánh bại Tưởng Giới Thạch (với sự hổ trợ của Mỹ), chỉ mới có năm năm trước khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm về Sài Gòn chấp chánh với chức vụ thủ tướng của chính phủ Bảo Đại. Điều oái oăm – nhưng có thể hiểu được nếu suy luận trong khuông khổ chính trị quốc tế và an ninh quốc gia – là trong chiến thắng của Mao, công lao của Hoa Kỳ không phải là nhỏ.

Sau ba tháng thăm Liên Xô và trở về, Tưởng bắt đầu ghét Liên Xô và đặc biệt không ưa chánh sách đấu tranh giai cấp của Liên Xô. Khi Tưởng lên cầm quyền thay thế Tôn Dật Tiên năm 1925, ông bỏ đường lối thân Liên Xô. Hoa Kỳ đổ viện trợ vào Trung Hoa và Trung Hoa trở thành một đồng minh quan trọng của Hoa Kỳ. Mối liên kết Mỹ Hoa đó tưởng như không có gì có thề làm gãy đổ được bỡi nó có đủ những yếu tố hỗ trợ cho sự bền vững: Trung Hoa đất rộng người đông, không thích cộng sản, nghi kỵ Liên Xô, thù nghịch với Nhật; nhiệt tình của Hoa Kỳ ủng hộ Tưởng vì ông đã tiếp tục duy trì đường lối thân tây phương. Không những như vậy, vợ của Tưởng, Tống Mỹ Linh, thuộc giáo phái Methodist và chính Tưởng đã cải sang Methodist khi lấy bà, cho nên Tưởng được sự ủng hộ nồng nhiệt của các hội đoàn cơ đốc ở Hoa Kỳ. China Lobby, được thành hình và nhiệt tâm hổ trợ bỡi Henry Luce, thuộc giáo phái Presbyterian và cũng là chủ tuần báo Time, đã vận động quốc hội Hoa Kỳ đổ hàng tỷ đô la (ba tỷ đô la, tiền lúc đó) vào Trung Hoa để đánh Nhật và rất thành công trong việc vận động quốc hội và dư luận Mỹ ủng hộ Tưởng.

Khi Tưởng lên cầm quyền, Chu Ân Lai, lúc đó là tổng thư ký đảng cộng sản Trung Hoa, đang ẩn náu ở Thượng Hải và Mao, vẫn còn dưới quyền Chu, đang cố gắng dành quyền chỉ huy “quân đội” cộng sản, vào khoảng vài ngàn người; trong khi dưới quyền Tưởng có đến mấy triệu quân. Vậy thì làm thế nào Trung Hoa của Tưởng trở thành Trung Hoa của Mao trong vòng chỉ có 24 năm? Và tại sao Hoa Kỳ thay đổi thái độ đối với Tưởng hay đúng ra tại sao một chính quyền thân tây phương và lãnh đạo bỡi một tín đồ thiên chúa giáo mất sự ủng hộ của Hoa Kỳ?

Những diễn biến đáng ghi nhận và có liên quan đến chủ đề của bài viết này được tóm lược như sau:

Trong lúc phe Tưởng và phe Mao (Mao lúc đó đã qua mặt Chu trở thành thủ lãnh của đảng cộng sản Trung Hoa) đang đánh nhau, Tướng George Marshall, sau này là tổng trưởng ngoại giao của Hoa Kỳ, qua thămTrung Hoa – không phải chỉ gặp đồng minh của Hoa Kỳ là Tưởng mà gặp cả Mao. Không những vậy, thái độ của ông thay đổi giữa hai thái cực: khi gặp Tưởng ông tỏ vẻ nghiêm khắc và khó khăn; khi gặp Mao ông hồ hỡi và thân thiện. Mối liên hệ tín cẩn giữa Mỹ và Mao cao độ đến mức Mao từ chối đi tới sứ quán Liên Xô nếu một nhân viên cao cấp của phái bộ Mỹ không cùng đi với ông. (Không phải Mao muốn có bạn đi cho vui mà ông nghi ngờ Liên Xô có ý đồ trên cá nhân ông).

Khi quân Tưởng đánh tan lực lượng của Mao khắp nơi, các đạo quân còn lại của Mao tập trung rút về Mãn Châu. Tưởng đuổi theo, bao vây và sắp tiêu diệt kẻ thù nguy hiểm và dũng mãnh nhất của Trung Hoa Quốc Dân Đảng, thì lực lượng của Mao được cứu thoát – không phải bỡi Liên Xô mà bỡi Hoa Kỳ. Hoa Kỳ yêu cầu Tưởng dừng binh. Tưởng phản đối. Hoa Kỳ dùng áp lực buộc Tưởng phải tuân hành, nhả gọng kềm và cuộc đấu tranh quốc cộng ở Trung Hoa đi vào một bước ngoặc từ đó không còn gì ngăn cản sự thành công của Mao và sự tàn lụi của Tưởng.

Liên Xô lo ngại về vũ khí nguyên tử Mao tích tụ ở Trung Hoa và âm thầm tìm cách hủy diệt. Liên Xô thăm dò Hoa Kỳ và đề nghị hai nước đồng tấn công những cơ sở nguyên tử của Trung Hoa. Hoa Kỳ trả lời một cách rõ ràng không ỡm ờ gì cả: nếu Liên Xô tấn công Trung Hoa, thế chiến thứ ba sẽ xảy ra vì Hoa Kỳ sẽ tấn công Liên Xô.

Những diễn biến đó cho thấy Hoa Kỳ đã thay đổi thái độ và lập trường nhiều lần về Tưởng và về Mao, và không phải lần nào thái độ và lập trường của Hoa Kỳ đều phù hợp với tư cách là một đồng minh của Tưởng*. Sai lầm lớn khi nghĩ rằng tình thân giữa cá nhân của các lãnh tụ, những lời hứa (nhất là có điều kiện kèm theo) là nền tảng của chính sách ngoại giao và quốc phòng của một quốc gia. Sự suy nghĩ và hành động từ quan điểm an ninh quốc gia của Hoa Kỳ đôi khi trùng hợp với quan điểm yêu thượng đế và ghét cộng sản. Nhưng khi an ninh quốc gia bị ảnh hưởng, Hoa Kỳ phải thay đổi đường lối và chính sách. An ninh quốc gia lúc nào cũng chiếm ưu tiên và đứng trên ý thức hệ hoặc tôn giáo.

Và trong trường hợp Trung Hoa trong giai đoạn đó, Hoa Kỳ không thể không bỏ Tưởng và không thể không ve vãn Mao. Vì sao?

Hoa Kỳ đã làm việc với Tưởng nhiều năm và thấy rõ những yếu điểm của Tưởng – những yếu điểm then chốt. Nhiều tướng lãnh, tư lệnh vùng của Tưởng bất tài, tham nhũng tràn lan, nhưng Tưởng từ chối không cách chức, trừng trị kỷ luật, hoặc ngay cả thuyên chuyển. Tưởng không làm gì cả để cải thiện tình hình. Một trường hợp rất khó hiểu liên quan tới tướng Hu Tsung-nan, một tướng rất tín cẩn của Tưởng nhưng lại là cán bộ nằm vùng của Mao (Hu không phải là tướng duy nhất của Tưởng là cán bộ nằm vùng của Mao). Trong 22 năm, tướng Hu đã cứu mạng sống của Mao khi Mao sắp bị bắt bỡi một sĩ quan dưới quyền Hu; báo cho Mao biết trước những cuộc hành quân của Tưởng; thông đồng với Mao để dàn trận phục kích rồi ra lệnh trực tiếp cho sĩ quan và binh sĩ của chính Hu bước vào ổ phục kích đó. Trong nhật ký của ông, Tưởng ước tính là Hu đã làm tiêu tan một phần ba lộ quân dưới quyền chỉ huy của Hu. Nhưng khi Hu xin từ chức, Tưởng từ chối.

Tưởng không nắm vững được nội bộ cũng như sự trung thành của những người dưới quyền mình. Trong một biến cố có thể dựng thành một phim thriller, một thống chế của Tưởng tìm cách bắt cóc Tưởng lúc Tưởng tới thăm ông này. Tưởng bỏ trốn ra một ngọn đồị và khi bị bắt, người chỉ mặc một bộ đồ ngủ, mặt đầy bùn. Mao muốn giết Tưởng, sai Chu bay đi thuyết phục ông thống chế giết Tưởng. (Ai cứu Tưởng? -Liên Xô.  Và Mao không giám trái lệnh Mạc Tư Khoa*).

Những yếu kém đó đã xoi mòn và hủy hoại Trung Hoa của Tưởng. Hoa Kỳ cảm thấy là Tưởng sẽ không tự cường tự lập và đứng vững một mình được. Muốn thắng Mao, Hoa Kỳ không những phải viện trợ cho Tưởng đô la và vũ khí mà có thể phải nhảy vào vòng chiến. Trung Hoa là một nước khổng lồ. Hoa Kỳ có thể kiệt quệ về kinh tế để cung ứng viện trợ cho Tưởng. Thiệt hại về quân sự nếu Hoa Kỳ tham chiến chắc chắn sẽ cao hơn là mức độ có thể chấp nhận được bỡi quốc hội và dân chúng. Và hậu quả không thể đoán trước được.

Trung Hoa có chung biên giới với Liên Xô khoảng 2600 dặm, chưa kể ranh giới giữa Nội Mông (thuộc Trung Hoa) và Ngoại Mông (thuộc Liên Xô). Liên Xô sẽ là hậu cứ dưỡng quân cũng như là nguồn tiếp liệu nhanh chóng và vô tận cho Mao. Tưởng và Hoa Kỳ không có phương cách gì để bịt cái “lỗ hổng” đó. Tưởng chỉ có thua hoặc kéo dài cuộc chiến với sự hổ trợ của Hoa Kỳ vô hạn định về thời gian, về tiền bạc và khí cụ, và về thương vong, một cuộc chiến không một nhà chiến lược nào của Hoa Kỳ có thể chấp nhận để cho Hoa Kỳ tham gia.

Nga Hoa có thể cùng ý thức hệ nhưng không phải là keo sơn gắn bó. Ngay cả khi đang đánh nhau với Tưởng, Mao công khai phản kích Liên Xô. Hoa Kỳ có thể cảm thấy chơi được trò chơi chia để trị. Với ba cường quốc tranh đua nhau, cán cân lực lượng sẽ quân bình hơn và chính trị trong vùng ổn cố hơn. Hoa Kỳ phải tìm cách khai thác sự bất hòa giữa Liên Xô và Mao, ve vãn Mao và muốn một nưóc Trung Hoa mạnh. (Sự ve vãn đó không mang lại kết quả ngay lúc đầu vì Hoa Kỳ không lường được đầu óc mánh khóe và tính toán quỷ quyệt của Mao. Nhưng mầm giống đã gieo, và nhờ đó từ năm 1972, Hoa Kỳ và Trung Hoa trở nên thân thiện và hợp tác với nhau trên nhiều lãnh vực rất hệ trọng cho an ninh quốc gia của cả hai. Những gì Hoa Kỳ đã làm từ năm 1972 cho thấy Hoa Kỳ rất đắt lực và hữu hiệu trong sự giúp đỡ Trung Hoa trở nên giàu mạnh).

Dĩ nhiên chiến trường Việt Nam nhỏ bé hơn, nhưng hình thái về địa lý (của chiến trường) và chính trị giống như một bản sao của cuộc chiến quốc cộng bên Trung Hoa. Trong một cuộc họp giữa Stalin, Mao và Hồ Chí Minh, Liên Xô đã đồng ý giúp Trung Hoa xây dựng những nhà máy kỹ nghệ nặng với điều kiện là Trung Hoa phải viện trợ cho Miền Bắc trong cuộc chiến Việt Nam. (Một điều kiện khác nữa là Trung Hoa phải nhượng đất cho Liên Xô mà sau này Đặng Tiểu Bình cho là sự mất lãnh thổ lớn nhất trong lịch sử Trung Hoa).

Với Việt Nam thay thế Trung Hoa làm bãi chiến trường và Trung Hoa thay Liên Xô làm hậu cứ dưỡng quân, huấn luyện và nguồn tiếp liệu vô tận cho Miền Bắc, từ quan điểm an ninh quốc gia, mối liên hệ của Hoa Kỳ với Việt Nam không khác hơn với Trung Hoa. Hoa Kỷ chỉ có thể cưu mang Miền Nam lâu đủ để tìm một giải pháp ổn thõa và lâu bền hơn, chẳng hạn, thương thảo với Trung Hoa.

Số mệnh của Miền Nam đã đang được định đoạt bỡi các thế lực trên chính trường quốc tế.

Chỉ cần ngó sang nước láng giềng, giới lãnh đạo Việt Nam từ Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho tới Tổng Thống Thiệu phải nhận thức không có gì làm cho Miền Nam quan trọng hơn Trung Hoa và không có gì làm Mỹ sẽ không bỏ Miền Nam. Tổng Thống Diệm có chín năm và Tổng Thống Thiệu có gần 10 năm để chuẩn bị và tăng cường Miền Nam thành một lực lượng đáng kể có thể đứng vững một mình dựa vào chính mình, là một đồng minh tốt và mạnh của Mỹ chớ không phải là một nước dựa và lệ thuộc vào Mỹ.

IV. KHÁI NIỆM AN NINH QUỐC GIA VÀ MIỀN NAM VIỆT NAM.

Lập trường và hành động của Hoa Kỳ trong cuộc chiến quốc cộng bên Trung Hoa đáng lẽ đã tạo nguyên cớ cho giới lãnh đạo Miền Nam phải lưu tâm tới thực tế chính trị quốc tế, là sự hổ trợ của một quốc gia bạn, ngay cả một cường quốc như Hoa Kỳ, phải có giới hạn. Trong chính trường quốc tế, mỗi quốc gia, đại cường hay nhược tiểu, đều phải cật lực phấn đấu cho an ninh của quốc gia mình. Mỗi quốc gia phải lo cho an ninh của quốc gia đó trước. Và mỗi quốc gia phải tự lực cánh sinh trước. Sự giúp đỡ của một nước bạn là để cho mình có cơ hội xây dựng nền móng quốc gia vững chắc và thực lực đủ để mình có thể tự chèo lái con thuyền quốc gia của mình trong đại dương quốc tế. Trông chờ vào nước bạn để cõng mình đi là một ảo giác mà giới lãnh đạo của một quốc gia không có quyền có.

Ngay từ đầu cuộc chiến ở Đông Dương, Hoa Kỳ đã không muốn dính dấp vào, tuy Tổng Thống Roosevelt đã chỉ trích Pháp và bênh vực Đông Dương (“France has milked it for one hundred years. The people of Indochina are entitled to something better than that.”). Ngay cả khi Pháp thấy sắp thất thủ ở Điện Biên Phủ đã khẩn cầu Mỹ can thiệp bằng không quân để cứu vãn tình hình, nhưng Tổng Thống Eisenhower từ chối. Chúng ta có thể đoán, không phải là không có cơ sở, là năm 1955 Mỹ bị bắt buộc phải nhảy vào Việt Nam là vì Pháp đang bị đẩy ra khỏi Việt Nam vì quá yếu, trong lúc cộng sản Trung Hoa hung hăng muốn bành trướng thế lực nhất là khi họ khuyến khích Bắc Hàn tấn công Nam Hàn, rồi sau đó nhảy vào vòng chiến trực diện với quân lực Mỹ. Năm 1972, khi Chu nhận xét là Hoa Kỳ đã vào Việt Nam “by accident”, Tổng Thống Nixon không đính chính (trích dẫn TTTTT).

Năm 1971, hay ít nhất là từ đầu năm 1972, có rất nhiều dấu hiệu cho thấy tình hình biến chuyển không thuận lợi cho Miền Nam. Áp lực chính trị nội bộ của Hoa kỳ làm cho giải pháp quân sự của Hoa Kỳ ở Việt Nam không còn thực tế. Khi quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa bắt đầu cởi mở, đối với Hoa Kỳ, cơ hội thương thuyết đã đến. Trong cố gắng thương thuyết và cố gắng đem Miền Bắc vào bàn thương thuyết, Kissinger đã nói những câu khơi mào báo hiệu điềm gỡ cho Miền Nam: Với Chu: “Nếu chúng tôi (Hoa Kỳ) có thể sống với một chính phủ cộng sản ở Trung Hoa thì chúng tôi cũng có thể chấp nhận nó ở Đông Dương/If we can live with a communist government in China, we ought to be able to accept it in Indochina.”, “Chúng tôi không muốn họ (Miền Bắc) yếu đi/We don’t want them to be weak.”, và “chúng tôi muốn chấm dứt chiến tranh vì bây giờ nó đòi hỏi một nổ lực không tương xứng với mục tiêu và vì nó liên hệ chúng tôi vào những cuộc đàm phán với những quốc gia mà chúng tôi có những vụ việc quan trọng hơn rất nhiều/we want to end the war because it now requires an effort out of proportion to the objectives and because it involves us in discussions with countries with whom we have much more important business.” Với ngoại trưởng Liên Xô Gromyko: “chúng tôi sẵn sàng rời bỏ (Miền Nam) trong cách thức mà sự chiến thắng của cộng sản không bị loại trừ/we are prepared to leave so that a communist victory is not excluded.” (phần Anh Ngữ được trích dẫn từ cuốn TTTTT của Giáo Sư Hưng).

Và như đã nói trên, Hoa Kỳ không bỏ đi “ngày một ngày hai”, mà Miền Nam có đến gần ba năm để chuẩn bị.

V. NHÌN LẠI 56 NĂM.

Trong cùng cuộc gặp gỡ nói trên, Tiền Sĩ Hưng hỏi tôi “Mình có thể làm được gì?” để không mất Miền Nam. Tiến Sĩ Hưng có vẻ đã nghiền ngẫm câu hỏi này từ lâu và “think out loud” mỗi khi có cơ hội, và vì bất ngờ tôi không nói được gì cả. Nhưng nếu có một ý niệm thấu đáo về an ninh quốc gia, câu trả lời rất là hiển nhiên: câu hỏi của Tiền Sĩ Hưng (và tôi chắc rất nhiều người đã hỏi câu này sau tháng tư 1975) được đặt ra 56 năm, hoặc 43 năm, hoặc 42 năm, hoặc 38 năm quá muộn.

Nó đáng lẽ phải được đặt ra khi Thủ Tướng Diệm lên cầm quyền năm 1954, hoặc khi Trung tướng Thiệu trở thành Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia năm 1967. Hoặc chậm lắm là vào năm 1968, khi Hoa kỳ đồng ý ngồi chiếu trên với Miền Bắc và để VNCH ngồi với MTGPMN, hay năm 1972, khi những dấu hiệu trở nên rõ ràng là Hoa Kỳ muốn rút ra khỏi Miền Nam. Và Miền Nam đáng lẽ phải khẫn thiết tự hỏi “Chúng ta phải làm gì” để tạo cho Miền Nam một thế lực, một chân đứng như một hòn núi mà sự hiện diện của nó phải được thừa nhận và những thay đổi trên trường chính trị quốc tế không bứng nó đi được.

Nếu câu hỏi đặt ra đúng lúc, Miền Nam chắc chắn tìm được câu trả lời và đủ thời gian dốc toàn lực và ý chí để thực thi một chính sách quốc phòng hữu hiệu. Định mệnh của Miền Nam chắc chắn đã ở trong tay người dân và chính quyền Miền Nam, và được định đoạt không phải ở Hoa Thịnh Đốn, Ba Lê, Bắc Kinh hay Mạc Tư Khoa, mà ở Sài Gòn.

Luật Sư JOHN P. LÊ PHONG

_______________________________________________________________

* Việc Liên Xô thay đổi thái độ lúc hổ trợ Mao lúc hổ trợ Tưởng giống như Hoa Kỳ, là bằng chứng rõ rệt định luật “an ninh quốc gia đứng trên đồng minh” là định luật chung cho mọi quốc gia. Một quốc gia sẽ thay đổi và phải thay đổi đồng minh khi an ninh quốc gia đòi hỏi.