BA TUẦN Ở VIỆT NAM

LỜI MỞ ĐẦU

    Bài viết dưới đây ghi lại chuyến đi Việt Nam của tôi vào năm 2001, viết vào tháng 9 năm 2001. Người và vật đã thay đổi nhiều cho nên những gì ghi lại trong bài này, tuy chính xác theo nhận xét của tôi vào lúc đó, không còn đúng trong hiện tại. Viết du ký là để ghi lại những nhận xét và tương tác với người và cảnh vật trong hành trình. Và cũng là một hình thức dùng để đánh dấu mốc thời gian và không gian.

BA TUẦN Ở VIỆT NAM

   Tôi được mời đi Việt Nam với tư cách cố vấn luật pháp cho một thương gia. Khi được biết là lộ trình gồm một tuần lễ ở Hà Nội, tôi nhận lời ngay cả trước khi thương lượng về luật sư phí. Chúng tôi sẽ đáp xuống Tân Sơn Nhất, ở lại Thành Phố Hồ Chí Minh một tuần. Tuần lễ cuối cùng chúng tôi ở Hà Nội và từ đó bay về Los Angeles. Tuần lễ ở giữa là của tôi tự do và tùy tiện. Sự sắp đặt đó rất hợp ý tôi.

1.   Sài Gòn.

Sài Gòn – bây giờ là Thành Phố Hồ Chí Minh (TPHCM) – thay đổi, không phải chỉ có tên, mà còn rất nhiều phương diện khác. Sân bay là một. Sự thay đổi ở Tân Sơn Nhất không hẳn là to lớn nhưng ít nhất khu hành khách đến và đi (terminal) đã cải thiện rất nhiều: rộng rãi hơn, có điều hòa không khí, có khu vực bán hàng miễn thuế và nhận thẻ tín dụng, và có “moving tube or tunnel” đưa hành khách từ máy bay vào terminal và ngược lại.

Khi đặt chân xuống Tân Sơn Nhất, tôi đã ở trong môi trường lúc nào cũng có máy lạnh vào khoảng mười lăm giờ: LAX, máy bay, Hồng Kông International, rồi lại máy bay, rồi Tân Sơn Nhất terminal. Vì vậy khi bước qua rào cảng quan thuế ra ngoài terminal, cái nóng cộng với sự ẩm ướt đến một cách đột ngột làm tôi tưởng sắp bịnh.

Một tiến bộ khác là Thành Phố đã bắt đầu cung ứng nhiều phương tiện lưu thông khác nhau. Tuy nhiên với khí hậu này và vì vừa trên máy bay xuống, tôi nghĩ taxi là phương tiện tốt nhất để ra khỏi phi trường để vào thành phố. Trước hết đỡ phải mất thì giờ trả giá. Tùy theo công ty, đồng hồ tiền bắt đầu từ 10,000 đồng hay 14,000 đồng (70 cents tới gần một dollar). Thứ hai, taxi có máy lạnh. Bao nhiêu đó đã đáng giá rồi.

Khi di du lịch, tôi thường không muốn chuẩn bị quá đầy đủ. “Tự nhiên” hoặc “không định trước” là một phần quan trọng tạo hứng thú trong khi đi du lịch. Nhưng không chuẩn bị đầy đủ nhiều khi gây phiền toái và tốn kém tiền bạc. Vì không giữ chỗ trước, tôi nghe lời ông tài và chọn cái khách sạn gần Chợ Bến Thành. Ra vẻ “tay trong” và hiểu biết, ông tài cho tôi biết giá là 25 mỹ kim một ngày. Nhưng khi tôi khệ nệ mang hành lý hối hả bước vào lobby để tránh cái ẩm nóng bên ngoài, cô tiếp viên, có thể cũng là chủ khách sạn, nhất định đòi 35 mỹ kim. (Sau này tôi được biết, nếu giữ chỗ trước qua Hà Nội Du Lịch, giá phòng có thể bớt đến 10 mỹ kim). Ðây chỉ là một việc nhỏ nhưng có thể làm mất vui.

Khách sạn thuộc loại mini nhưng mới và đầy đủ tiện nghi. Có thang máy nhưng dành riêng cho khách mà thôi. Nhân viên phải leo cầu thang. Nhưng vì thang máy quá nhỏ, ba người vào là đã thấy chật, tôi chọn leo cầu thang mỗi khi lên xuống trừ lần đi lên khi dọn vào và lần đi xuống khi dọn ra. Phòng thì lại rất rộng rãi và rất sạch sẽ. Có TV và có tủ lạnh. TPHCM có rất nhiều khách sạn đầy đủ tiện nghi như vậy với giá từ 20 tới 30 mỹ kim. Một số khách sạn trên đường Ðề Thám, cũng sạch sẽ nhưng không có máy lạnh, với giá từ 8 tới 10 mỹ kim một ngày.

Chuyến đi này, ngoài cái va li và garment bag, tôi mang theo cái ba lô hay backpack mượn của con tôi. Ba lô có rất nhiều ngăn và tuy trông có vẻ nhỏ nhưng lại có thể chứa rất nhiều đồ đạt vì vậy rất tiện dụng. Tất cả những thứ gì không phải quần áo hoặc giày dép, tôi cho cả vào ba lô và đi đâu cứ cho ba lô lên vai là xong. Khi chuẩn bị cho chuyến đi, tôi có nghĩ tới việc mang mấy gallons nước và vài cuộn giấy đi cầu. Nhưng cuối cùng chỉ một cuộn giấy đi cầu và một chai hai lít nước có thể bỏ vừa vào cái ba lô. Nhưng sự cẩn thận đó trở thành vô ích vì Việt Nam có rất nhiều loại nước lọc đóng chai và gần như tất cả những loại nước ngọt sản xuất bỡi Coca Cola. Nhưng nếu khát nước nên rán đợi đến khi vào thành phố, đừng mua nước ở phi trường. Giá một lon coca cola ở phi trường là một dollar.

Hai thứ khác mà tôi nghĩ cũng không còn cần thiết nữa là thuốc trừ muỗi và sâu bọ, và thuốc tiêu chảy, trừ trường hợp đi về các tỉnh nhỏ hoặc cao nguyên.

Sau khi lấy phòng và sau khi tắm xong, tôi lên giường ráng chợp mắt trước khi đi ăn tối. Chỗ tôi được đưa tới có cái tên rất kêu: Làng Nướng Miền Tây. Chữ “Làng” diễn tả nơi ăn uống này chính xác hơn là “Tiệm” vì nó rất rộng và ngoài trời. Thực đơn đầy những món hấp dẫn nhưng tôi chỉ dám ăn một vài món quen thuộc vì đôi khi tôi bị dị ứng về thức ăn.

Trời mưa trong khi chúng tôi đang ăn. Tuy xa Việt Nam khá lâu, nhưng khi ngồi đây giữa phố Sài Gòn chiều nay, nghe tiếng mưa, lắng nghe âm điệu của mưa, hít thở mùi vị ướt át, trong thoáng chốc tôi như sống lại đời sống cũ, liên tục không đứt đoạn. Tôi vẫn nghĩ mưa ở Việt Nam có một âm điệu và nhịp nhàng khác hẳn những vùng khác và từ thiên cổ đã ăn sâu vào tâm khảm của người Việt và góp phần to lớn vào Việt tính, một tâm hồn dễ xúc cảm (có lẽ vì vậy dễ cải vả và dễ đánh nhau?) và ưa trầm tư.

Tôi được đưa tới nhiều nơi trong Thành Phố HCM. Tên thì rất quen nhưng tôi không nhận ra được nơi chốn. Những nơi như Bình Chánh, Phú Lâm, Thủ Ðức v.v… trước kia hẻo lánh, ít người và không thuộc Sài Gòn, ngày nay trở thành những đơn vị của Thành Phố HCM, một thành phố cũng xô bồ và náo nhiệt như Sài Gòn nhưng lớn hơn và đông đảo hơn nhiều. Một tờ báo ở Hà Nội đăng tải số dân chính thức công bố bỡi cơ quan chính phủ là 5.5 triệu. Nhưng con số ước lượng (bán chính thức) cũng của cơ quan này là bảy triệu người.

Một dân số khổng lồ như vậy dĩ nhiên tạo ra những tệ nạn khó khăn to lớn. Chỉ cần lái xe đi vòng thành phố là những tệ nạn đó hiện ra trước mắt. Nhưng đồng thời sinh lực cũng hiển hiện và tràn đầy. Cái khả năng thu vén và sử dựng sinh lực đó để giải quyết các tệ nạn để phát triển và phát huy, theo tôi nghĩ, là yếu tố chính làm cho New York khác Cairo.

Sau năm ngày, tôi đã sẵn sàng để đi Nha Trang. Bữa ăn tối cuối cùng, tôi được đưa tới một seafood buffet trên đường Ðồng Khởi, trước kia có tên là Tự Do, và trước nữa là Catinat. Giá trong thực đơn của những tiệm mà tôi được đưa tới ăn rất là cao so với số lương trung bình của người Việt. Rất nhiều món ăn giá cao như ở Little Saigon, và một số giá còn cao hơn. Ðiều đáng chú ý là thực khách rất đông và tuổi tương đối còn trẻ.

Trước khi về lại khách sạn, tôi được đưa tới một phòng trà. Chúng tôi đến có hơi trễ sau khi ăn, nên chỉ tìm được một chỗ gần sát phía sau. Vì ngồi xa như vậy nên sự yếu kém của dàn âm thanh rất dễ thấy. Khung cảnh thô sơ. Bàn ghế bằng kim loại. Tuy nhiên sự trình diễn của các ca sĩ rất sống động và rất tự nhiên. Chính ra, sự giản dị của bối cảnh làm lộ rõ tài năng của các nghệ sĩ và làm nổi bật tình cảm của mỗi bản nhạc. Từ lâu, tôi vẫn nghĩ nhạc Việt diễn tả xúc tích nhất không phải trên sân khấu màu mè kiểu cọ nhiều trang trí và ánh sáng nhân tạo, nhưng trong một bối cảnh đơn giản, cùng một cung cách chấm phá như cách tả cảnh của cụ Nguyễn Du. Ngược lại với những gì tôi nghe đồn ở Mỹ, những bản nhạc của các nghệ sĩ đã di tản sang nước ngoài vẫn được trình diễn một cách tự do.

Một điều rất đáng chú ý là tôi không thấy một ngoại ngữ nào được sử dụng nơi công cộng trừ tiếng Anh. Có vẻ như có một lúc nào đó trước đây, chính phủ Việt Nam đã quyết định Anh Ngữ là ngoại ngữ chính thức và được độc quyền xử dụng ở Việt Nam khi nào và nơi nào ngoại ngữ cần được xử dụng, chẳng hạn dấu hiệu, bản hướng dẫn, hoặc khi các tiếp viên, chiêu đãi viên hoặc hướng dẫn viên phải nói chuyện với người nước ngoài, dù rằng có rất ít người nước ngoài nói tiếng Anh. Ðó là trường hợp trên xe buýt của tôi. Tất cả hành khách từ Âu Châu đến, phần lớn từ Bồ Ðào Nha (hoặc Tây Ban Nha) trừ tôi và một giáo sư ngôn ngữ người Mỹ trên đường sang dạy Anh Văn ở Quảng Ðông. Ông tài và hai người phụ tá chỉ dùng tiếng Anh khi phải nói chuyện với hành khách. Không phải chỉ trong Nam, ngoài Bắc cũng vậy.

2.   Chuyến Ði Về Nha Trang:

TPHCM có nhiều tour bus (để phân biệt với xe đò) khác nhau. Cách tổ chức và điều hành có vẻ quy mô và đàng hoàn. Giá lại rẻ vì vậy rất được giới du lịch với phương tiện tài chánh không được dồi dào từ Âu Châu (người Việt gán cho họ cái tên “Tây Ba Lô” vì hành lý chỉ có cái ba lô) ưa chuộng. Giá vé được niêm yết trước; xe không dừng dọc đường để bắt khách mà chỉ dừng lại những nơi cố định; và nhất là họ không dồn nhét hành khách – mỗi hành khách một ghế ngồi và không ai được đứng. Hình như có luật quy định về vấn đề này.

Một cái hay nữa của xe tour là họ sẵn sàng đậu nơi nào hành khách muốn xuống, chẳng hạn Phan Thiết khi hơn nửa số hành khách của xe tôi ở lại và đi Mũi Ne, nơi mà dân Sài Gòn và du khách ngoại quốc rất thích.

Chuyến đi tương đối nhẹ nhàng và thoải mái. Khí hậu không nóng hơn LA bao nhiêu nhưng sự ẩm thấp đôi khi chịu không nổi. Bỡi vậy sự khoan khoái khó tả xiết khi có một cơn heo may. Miền Nam hình như dễ có heo may hơn ngoài Bắc. Kinh nghiệm của tôi là nên mang một cái quạt nhỏ và một cái khăn nhỏ nhưng dày. Rất hữu ích khi đứng gió và khi đổ mồ hôi.

Quốc Lộ Số 1 từ TPHCM tới Nha Trang, so với năm 1993 lần cuối cùng tôi về Việt Nam trước lần này, đã được cải thiện rất nhiều, tuy vẩn còn rất hẹp. Cà Ná không thay đổi mấy và đó là lý do tại sao bãi biển vẫn còn đẹp. Bên lề đường đậu khá nhiều xe như Camry, Mitsubishi Montero và ngay cả Landcruiser, rất cồng kềnh so với đường sá ở Việt Nam. Cam Ranh thì có vẻ suy sụp nhiều. Nhà cửa xây cất một cách xô bồ vô trật tự cả hai bên xa lộ. Nhưng vịnh Cam Ranh và bán đảo bên kia Vịnh trông vẫn tuyệt vời.

3.   Nha Trang.

Tôi sống ở Nha Trang khá lâu trước khi qua Mỹ nên như có người đã nói, yêu thương Thành Phố mà không hiểu tại sao. Khi tôi về Việt Nam lần trước, số dân gia tăng có lẽ đến ba lần và nói đủ thứ giọng. Ðó có lẽ là bằng chứng rõ rệt nhất là cái đẹp của thành phố Nha Trang có tính cách đại chúng.

Sài Gòn đã phát triển và thay đổi đến mức biến thành một thành phố khác. Nha Trang, tuy có phát triển và lớn rộng hơn, nhưng vẫn giữ được sắc thái và duyên dáng của một thành phố nhỏ. Có thể nói Nha Trang là Key West của Việt Nam với rất nhiều xe hai bánh. Bãi biển đẹp không kém bất cứ bãi biển nào trên thế giới, và náo động đông đảo hơn bất cứ bãi biển nào ở Việt Nam. Tôi chưa bao giờ thấy bãi biển Nha Trang đông người như lần này: người đi bộ, người đi xe đạp, chạy bộ, đánh vũ cầu, đánh bóng chuyền, phơi nắng, bơi lội, v.v… bất cứ giờ nào trong ngày.

Ðường Trần Phú (trước kia là Duy Tân) mở rộng và tu bổ hơn, về phía Nam chạy dài đến Cầu Ðá, về phía Bắc đâm ngang qua và lấy một phần của khuôn viên Tòa Hành Chánh Tỉnh (Tỉnh Ðường cũ), chạy dài đến Ðồng Ðế. Một cây cầu sẽ được bắt ngang qua miệng sông Hà Ra. Ðồng Ðế bây giờ là một phần của thành phố Nha Trang và đã bắt đầu đông đúc.

Năm 1993, Nha Trang có vào khoảng 98 khách sạn. Lần này tôi không thấy thống kê, nhưng con số có lẽ lên gấp đôi. Ngoài những khách sạn đã có sẵn và rất được ưa chuộng như Hải Yến, Grand, Fregate, v.v…, khách sạn mới và tân tiến mọc lên khắp nơi, nhất là bờ biển. Ngoài những tiện nghi “đương nhiên” như máy lạnh, tiệm ăn sang, bar, và dịch vụ tiếp đãi lịch sự và hữu hiệu, một số khách sạn còn cung ứng những tiện nghi “độc đáo” khác. Yasaka Saigon Nhatrang (đó là tên của khách sạn) tiền phòng vào khoảng từ $35 tới $40, hai giuờng rất rộng rãi, có hai sân tennis và phòng tập thể dục (gym) khá đầy đủ dụng cụ. Lodge Nhatrang, cũng cùng giá, không có sân tennis nhưng lại có phòng tắm hơi và đấm bóp.

Cũng trên đường Trần Phú về hướng lầu Bảo Ðại là khách sạn Anna Mandara, nằm về hướng đông của bờ biển nghĩa là trên bãi cát. (Ngay dưới thời cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, thương phế binh có quyền cấm dùi gần như bất cứ nơi nào trừ bãi cát). Tuy nhiên cách xây cất rất tế nhị và có suy nghĩ. Khi lái xe đi qua lần  đầu tôi không biết đó là khách sạn. Tiền phòng thay đổi theo mùa nhưng trung bình từ $150 tới $275. Ðây là một khách sạn thực sự sang và mọi thứ từ ngoại sảnh tới phòng ngủ, từ bàn ghế tới trang trí, từ tiệm ăn tới khu đọc sách đều thuộc hạng cao. Ðiều bất ngờ nhất, và cũng là bằng chứng của sự ưa chuộng của du khách đối với khách sạn này và của thành phố Nha Trang, là khi tôi đến, khách sạn hết chỗ và họ có sổ chờ cho những du khách vì không có chỗ phải ở tạm các khách sạn khác.

Phần lớn nhửng khách sạn bên Việt Nam gọi là mini rải rác khắp nơi trong thành phố, giá rẻ hơn, phòng nhỏ hơn, nhưng tiện nghi cũng rất đầy đủ.

Ngày ở Nha Trang bắt đầu rất sớm bỡi vì bình minh đến sớm. Một lý do nữa là chính quyền địa phương đánh thức tôi dậy mỗi ngày kể cả ngày chủ nhật vào lúc năm giờ sáng, đó là lúc họ mở máy phóng thanh mà cái loa cách cửa sổ phòng ngủ của tôi chỉ có khoảng một trăm feet. Nhưng tôi không có gì để than phiền vì giờ đó đi bơi rất tốt. Tôi bơi mỗi ngày trong thời gian ở Nha Trang. Ngay cả lúc năm giờ sáng mà ngoài đường và trên bãi biển đã đầy người, và xe đạp và xe gắn máy.

Thời gian tôi ở Nha Trang quá ngắn ngủi nhưng rất thích thú. Tôi có hơi chần chừ khi rời Nha Trang dù rằng tôi rất muốn khám phá những vùng “xa lạ”. Và đối với tôi, vùng nào ở phía bắc của Nha Trang là đều xa lạ cả. Ngược với lời khuyên của bạn bè và thân nhân, tôi quyết định đi Hà Nội bằng xe buýt.

Chỉ sau vài giờ ngồi trên xe, tôi bắt đầu nghĩ lại về quyết định này.

4.      Hội An, Ðà Nẵng và Huế.

    Quốc Lộ 1 từ Nha Trang đi về hướng bắc không được bằng phẳng như đoạn đường đi về nam. Lầm lỗi lớn của tôi là mang nhiều hơn hai xách hành lý. Ði “xuyên Việt” kiểu này thì một cái carry-on và cái ba lô là thuận tiện nhất, gọn gàn và có nhiều tự do hơn. Rất là cồng kềnh và bất tiện nếu tôi muốn dừng lại nơi nào. Vì vậy tôi không ghé Qui Nhơn được vì xe buýt của tôi không vào Qui Nhơn.

a)      HỘI AN: Trời đã tối khi chúng tôi đến Hội An. Trừ tôi, một người nữa từ California và bốn người Ðức, tất cả hành khách còn lại là người Bồ Ðào Nha và đều ở lại Hội An, có lẽ muốn tìm những di tích văn hóa và thương mại người Bồ để lại từ thế kỷ mười sáu hoặc mười bảy. Hội An có một “truyền thống” mới. Mỗi tháng thành phố có một ngày hội. Ngày tôi đến đúng vào ngày hội, đèn lồng treo khắp nơi. Tôi được một người làm ở khách sạn đưa đi coi khu phố cũ hay phố chính. Tuy đã trễ, nhưng hàng quán vẫn rất nhộn nhịp nhất là các quán ăn ở bờ sông. Tôi không đi được nhiều nơi vì phải đi ngủ sớm chuẩn bị cho hành trình ngày mai – khởi sự lúc sáu giờ sáng.

b)      ÐÀ NẴNG: Xe chỉ chạy ngang Ðà Nẵng và dừng lại vào khoảng một giờ trước cổng Bảo Tàng Viện Chàm. Nhưng những gì tôi thấy được trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó gây một ấn tượng sâu xa. Gần như chỗ nào chúng tôi đi qua đều thấy có công trình xây cất. Nhìn thành phố, nhìn những khoảng trống bao la chung quanh và nhất là con sông chảy ngang thành phố, tôi như thấy biểu hiện một khả năng phát triển to lớn.

Từ trên đèo Hải Vân nhìn xuống, tôi có thể hiểu được tại sao cựu quân nhân Mỹ rất hồ hỡi về Vịnh và bãi biển Ðà Nẵng. Như những hành khách khác trên xe, tôi lấy máy hình ra để cố thu cảnh trí bao la. Nhưng máy hình của tôi không đủ sức để ghi nhận được sự hùng vĩ của địa hình trước mắt.

    Ðứng trên đỉnh đèo nhìn xuống, bỗng nhiên một ý tưởng đến một cách bất ngờ làm tôi sững sốt vì tôi không bao giờ nghĩ tới cho tới giây phút này, dù rằng điều đó rất hiển nhiên và hữu lý: tôi không biết gì nhiều về nước Việt Nam

c)      HUẾ: Tôi chỉ dừng lại Huế có mấy giờ trước khi đổi xe buýt đi Hà Nội. Hãng xe Sài Gòn không có giấy phép chạy đường Hà Nội. Tôi rất hối hận không đi máy bay vì như vậy tôi có thể ở lại Huế qua đêm và có thể ghé thăm cậu mợ tôi và các em vẫn còn sống ở đây. Tôi tưởng xe buýt sẽ chạy qua cầu Trường Tiền, nhưng chỉ chạy dọc theo bờ sông Hương. Nhưng cũng đủ để tôi hồi tưởng lại khi tôi, tám hoặc chín tuổi, được cậu tôi đưa đi tắm ở sông Hương.

5     Trên Ðường Ði Hà Nội.

Nếu Quốc Lộ 1 từ Nha Trang tới Huế xấu, thì đoạn đường từ Huế tới Hà Nội phải nói là khủng khiếp. Lũ lụt liên tiếp gây hư hại rất nhiều cho chặng đường này. Tôi rời Huế khoảng sáu giờ chiều. Như những hành khách khác, tôi ngủ trong khi xe đi qua những vùng mà tôi muốn được thăm hay ít nhứt là xem, như Bến Hải, Ðông Hà, Quảng Trị, v.v… Vào khoảng nữa đêm chúng tôi bị đánh thức dậy và được yêu cầu xuống xe để xe có thể lên phà. Hành khách người nào trông cũng mệt mỏi. Tôi có lẽ còn tiều tụy hơn và rất muốn đi ngủ lại nhưng không có chỗ. Người lái xe không được khéo vì vậy hai bánh sau của xe buýt bị kẹt ở chỗ cái vỉ sắt của phà nối với mặt đường của bến phà. Trong khi chờ đợi ông tài và mấy người phụ tá dùng dụng cụ bẩy bánh xe lên, tôi cảm thấy buồn tiểu.

Bỗng nhiên (tôi không hiễu tại sao tôi không để ý tới trước đó) trong không khí khai nồng nặc mùi nước tiểu. Tôi nhìn chung quanh để định xem mùi hôi từ đâu đến: ngay trên bờ sông cách bến phà có lẽ vào khoảng mười thước hành khách đang đứng tiểu, một hiện tượng có lẽ xảy ra hằng đêm bao nhiêu năm nay.

Trong lúc tôi đang thắc mắc tại sao chính quyền sở tại không làm gì cả, thì một người đàn ông mình trần chỉ mặt quần đùi mang quần áo ra bờ sông ngay bến phà và bắt đầu giặt giũ. Ngay nửa đêm. Và có vẻ không để ý gì đến người hoặc cảnh vật chung quanh. Rồi một người đàn bà xuất hiện cùng chỗ đèn sáng, một tay cầm một con cá dang dãy dụa và một tay cầm con dao. Người đàn bà liếc nhìn những hành khách ngồi chung quanh trong bóng tối. Họ đang theo dõi việc làm của người đàn ông và bây giờ chuyển sự chú ý sang người đàn bà, nhìn con cá rồi nhìn con dao như thôi miên, không muốn tin điều mà, một cách hơi mơ hồ, họ nghĩ là sắp xảy ra. Người đàn bà, hơi có vẻ ngại ngùng, đưa con dao lên, bổ xuống đầu con cá. Chưa đạt được ý muốn, con dao trong tay người đàn bà giáng xuống đầu cá thêm mấy lần nữa, mỗi lần như vậy, người đàn bà có vẻ bạo dạn hơn và tự tin hơn.

Trong lúc đó có hai nhân viên bến phà ngồi chồm hổm, hai tay duỗi thẳng và tựa lên trên đầu gối, miệng phì phào thuốt lá. Họ không có vẻ để ý tới những gì đang xảy ra chung quanh, từ hành khách đứng tiểu cách chỗ họ ngồi không xa, người đàn ông giặt quần áo, người đàn bà làm cá tới người lái xe và phụ xe chạy đôn đáo để bẩy xe lên phà. Tôi nhẹ nhàng bước tới gần, và thấy rõ ràng là họ đang nhìn ra dòng sông có vẻ trầm tư. Trong khung cảnh nửa tối nửa sáng, mọi sự có vẻ “siêu thực” làm tôi gần như không nghe lời gọi của ông tài nhờ hành khách giúp đẩy xe lên phà. Hai nhân viên bến phà vẫn ngồi yên không nhúc nhích.

Khi phà rời bến, tôi tiến lại gần một nhân viên khác để hỏi xem con sông tên gì và tại sao xe chúng tôi phải qua phà mà một số xe khác được chạy qua cầu. Sau khi máng dây xích vào một trụ sắt, ông ta nói một tràng tôi nghe mà không hiểu hết được. Người phụ xe đứng bên cạnh “thông dịch” lại cho tôi. “Nhứt Lị” tức là sông Nhật Lệ và chỉ xe trọng tải nhẹ mới được đi qua cầu. Tôi cảm thấy hứng thú vô cùng về cách phát âm của ông nhân viên nên tôi tìm cách tiếp tục nói chuyện để nghe xem mỗi chữ ông ta sẽ phát âm khác như thế nào.

Khi lên lại xe buýt, tôi không chống được cơn buồn ngủ. Khi thức giấc trời đã gần sáng, tôi tưởng xe sắp vào Hà Nội. Nhưng khi nhìn bảng hiệu thương mại (đó là cách duy nhất cho tôi biết đang ở thành phố, quận hoặc tỉnh nào) tôi ngạc nhiên thấy xe chỉ mới tới Hà Tĩnh. Sức nóng, sự ẩm ướt và đoạn đường dài làm tôi bắt đầu mệt mỏi và uể oải. Tôi không còn muốn ngắm nhìn cảnh vật hai bên đường dù rằng tôi vẫn nhớ đây là lần tiên tôi được đặt chân đến vùng đất cổ xưa của Việt Nam nơi mà những biến chuyển trọng đại trong lịch sử đã xảy ra và vẫn còn mang nhiều dấu tích của những biến chuyển đó. Sự độc điệu của cảnh vật là một lý do quan trọng làm cho tôi thiếu hăng hái. Trừ một vài thành phố lớn, Quốc Lộ 1 hình như chạy qua tất cả những thành phố khác từ TPHCM tới Hà Nội và là phố chính. Vì vậy khi đã thấy một thành phố là coi như đã thấy tất cả những thành phố khác. Khi vào một thành phố dù không biết tên, tôi gần như có thể đoán được hai bên đường có những loại hàng quán gì.

Tôi bắt đầu cảm thấy hào hứng trở lại khi xe vào cánh đồng lúa của Nghệ An hoặc Thanh Hóa (không có mốc hoặc dấu hiệu gì cho tôi biết là đang ở đâu). Khi còn ở Việt Nam, sống hết thành phố này sang thành phố khác, tôi gần như quên là lâu lắm tôi đã sống ở miền quê khi tôi còn nhỏ. Nhìn cánh đồng xanh nhấp nhô và hít thở mùi vị độc đáo của mạ non, một cách bất ngờ và kỳ diệu tôi như sống lại thời thơ ấu và bỗng nhiên những ký ức tưởng đã chôn vùi sau bao năm tháng hiện ra một một cách rõ rệt như vừa xảy ra hôm qua.

Xe đã rời khỏi cánh đồng lúa và đi vào một thị trấn nhỏ, nhưng tôi vẫn còn trong giấc mơ. Một bảng hiệu bên đường “chúng tôi có thịt chó, cóc và rắn” mang tôi về với thực tế. Trước khi rơi vào giấc ngủ mệt, tôi được biết xe sẽ tới Hà Nội trong vòng ba giờ.

 6.     Hà Nội.

Trời đã chiều khi xe đậu lại trước khách sạn Ðồng Xuân, nằm bên cạnh chợ Ðồng Xuân. Ðây là một khách sạn nhắm vào du khách “economy”, giá tám mỹ kim một ngày, bớt thêm hai mỷ kim nếu khách ở lại đêm thứ nhì. Tôi lên xem phòng, tuy có chật nhưng rất sạch sẽ, không có máy lạnh nhưng mỗi phòng đều có quạt máy. Nếu không giữ chỗ trước ở khách sạn Hòa Bình, có lẽ tôi đã ở lại đây, ít nhất một đêm, vì cái chợ có tên Ðồng Xuân thường được tô điểm trong tiểu thuyết và nhắt nhở trong sử ký Việt Nam.

Trong tiền sảnh đầy người, một giọng Hà Nội, nguyên chất, nói sau lưng tôi “Bác có cần xe không bác ơi?” Tôi quay lại và đối diện với một thanh niên trông rất khỏe mạnh. Câu hỏi vừa rồi anh hỏi tôi. Nếu gặp trong khuôn viên của một trường đại học, tôi sẽ nghĩ anh là một sinh viên cao học (vì tuổi tác không trẻ hẳn nhưng không già).  Tôi tưởng anh làm việc cho khách sạn, nhưng thực sự là đạp xe xích lô. Sau khi đã lên xe, tôi trực nhận là anh, một cách lể độ và lịch sự, đã cố gắng thuyết phục tôi lên xe chứ không phải “ép” tôi chẳng hạn bằng cách dằn lấy hành lý bỏ lên xe, một hành vi thường xảy ra ở trước cửa các khách sạn ở Sài Gòn.

Có thể đây chỉ là một trường hợp hiếm hoi của một thanh niên có nghề ban ngày, buổi chiều chạy xích lô kiếm thêm tiền. Nhưng chỉ trong một thời gian ngắn ở Hà nội, tôi gặp khá nhiều người trẻ như vậy, đạp xích lô hoặc lái xe ôm. Một anh xe ôm sau khi đưa tôi từ bộ Thương Mại về khách sạn, hỏi tôi từ đâu đến. Muốn tránh những câu hỏi khó trả lời, tôi nói từ Thành Phố Hồ Chí Minh. Lấy mũ xuống (vì trời nóng và cũng là dấu hiệu anh muốn nói chuyện lâu), anh cho tôi biết đã đi học ở TPHCM, làm việc ở Thủ Ðức, mất việc và trở lại Hà Nội.

Trông anh, tôi có thể tin được anh là một người đã tốt nghiệp đại học. Anh nói không chắc tìm được việc vì ở Hà Nội không có việc. Rõ ràng đối với anh, xe ôm không phải là “việc”. Anh đang đi học thêm để kiếm việc khác nhưng cũng không chắc có tìm được việc hay không. Anh nói bằng một giọng tự nhiên bình thản không chỉ trích, không cay đắng. Ðứng trước cửa khách sạn nghe anh xe ôm tâm sự, tôi chắc chắn mối ưu tư hệ trọng nhất của thế hệ này là có việc làm, hay đúng ra một việc làm với lương bỗng đầy đủ.

Nhưng Việt Nam đang có những vấn đề nghiêm trọng khác như đường sá và cầu cống, ô nhiễm, vấn đề lưu thông trong thành phố, rác và chất phế thải v.v… Có dấu hiệu cho thấy chính quyền đã bắt đầu chú ý tới những vấn đề này. Khi tôi đang ở Việt Nam, Hà Nội đang tiếp đón đại diện của bốn công ty Mỹ chuyên về quản trị rác và chất phế thải.

Không khí ở Việt Nam có vẽ như chỉ ô nhiễm tới ngang mũi, khi xe đi trước phun khói vào mũi người đi sau. Còn bầu trời lúc nào cũng trong xanh. Dân chúng chống ô nhiễm bằng cách mang mặt nạ khi ra đường. Giống như vấn đề ô nhiễm, tôi không thấy chính quyền đưa ra một biện pháp nào để thay đổi thói quen lái xe của dân chúng. Vì rằng vấn đề có thể giải quyết dễ dàng và nhanh chóng với những dấu hiệu đi đường, lằn vẽ vàng trắng, và giấy phạt (mà tôi nghĩ chính quyền nào cũng phải ưa chuộng), tôi không hiểu được tại sao sau bao nhiêu năm vẫn không thay đổi.

Ở Hà Nội, “Ðường” đổi thành “Phố”. Phía bắc của phường Hoàn Kiếm, mỗi “Phố” mang tên của loại hàng bán ở phố đó. Ví dụ “Phố Hàng Bạc” bán nữ trang, “Phố Hàng Cá” bán cá. Hay ít nhất tôi hiểu như vậy qua bao nhiêu văn chương tiểu thuyết đọc khi còn nhỏ. Khi đến Hà Nội tôi vẫn còn mong đợi được thấy các Phố Hàng giữ nguyên truyền thống đó. Tên thì vẫn như cũ, nhưng kinh tế và thương mại đã “phản bội” truyền thống đó. Trường dạy computer và mini khách sạn chiếm cả những chỗ tốt trên các Phố Hàng, và phần lớn các cơ sở thương mại, bất kỳ nằm ở Hàng nào, đều bán quần áo và những sản phẩm nhắm vào du khách. Chữ “Hàng” vì vậy không còn mang bao nhiêu ý nghĩa, ngoài việc tên Hàng có lẽ có ích cho du khách với nhiều trí tưởng tượng.

Trong mấy ngày ở miền Bắc, tôi nhận thấy dân chúng có vẻ có kỷ luật, nghiêm trang và không hồ hỡi như miền Nam. Khéo léo hơn và dè dặt hơn.

7.      Vịnh Hạ Long.

Ðoạn đường Hà Nội-Vịnh Hạ Long tương đối ngắn nhưng hành trình khá dài và khá cực nhọc bỡi vì một đoạn vào khoảng năm mươi cây số trước khi đến Vịnh gần như không có đường. Tài xế thấy chỗ nào trống là lái vào. Xe chúng tôi bị chận lại vì xe chở quá số người, dù rằng tôi thấy mọi người đều ngồi cả, không ai đứng. Tài xế xuống xe nỏi chuyện với hai nhân viên công lực mặc đồng phục. Sự chờ đợi có hơi lâu.

Tôi ngồi sát cửa sổ cố gắng nghe sự trao đổi giữa hai bên thì bỗng nhiên người hành khách trung niên ngồi sát tôi, chồm qua người tôi đưa đầu qua cửa sổ lớn tiếng với hai nhân viên đồng phục:

“Cho đi đi bác ơi. Soát cái đéo gì mà lâu thế.”

Tôi không dám đổi sắc diện. Cũng như những lần trước về Việt Nam, tôi rất cẩn thận về ngôn ngữ, cử chỉ và thái độ. Nhưng tôi không ngăn được một cảm giác mới lạ đến bất ngờ khi nghe câu nói này. Không nơi nào nói tục hay hơn và nhiều hơn trường luật Sài Gòn, nơi tôi học. Chữ Đ.M. đánh vần bốn kiểu khác nhau. Thành thử tôi không lấy làm lạ khi nghe nói tục chửi thề.

Nhưng có cái gì rất nguyên chất, rất “thực”,  rất “original” trong câu nói cũng như cách nói của ông Bắc Kỳ chính gốc này: nghiêm trang, đĩnh đạt và chữ “đ-é-o” không mang tính tục mà lại nhấn mạnh và làm nổi bật cái phi lý, cái “bựa” của hai ông công lộ. Tuy không để lộ ra, nhưng trong lòng tôi nảy nở một cảm giác thân thiện, với ông hành khách này và với vùng đất mới. Đây là lần đầu tiên tôi đến miền Bắc. Lần đầu tiên tôi đi xa hơn Huế về hướng Bắc.

Khi vào Hạ Long, quang cảnh trước mắt thật sự là một kỳ quan. Ðứng trên bờ nhìn ra Vịnh, tôi thấy các hòn đảo bao tròn Vịnh như một cái vòng. Khi tàu tới gần vòng đảo, Vịnh lại mở ra và bên ngoài lại có một vòng đảo khác. Vịnh Hạ Long có tất cả là 1969 hòn đảo. Muốn đi thăm động, phải mua hai vé, một để đi tàu và một để vào động.

Vé của tôi cho phép vào hai động, Thiên Cung và Ðầu Gỗ. Tàu của tôi đậu ở chân của một hòn núi nhỏ có động Thiên Cung. Khi bước vào động, tôi sững sốt vì bên trong hòn núi trống rổng như một quả trứng gà đã lấy hết tròng trắng tròng đỏ. Những xoi mòn và thạch nhũ bên trong là một chứng tích của sự kỳ diệu của thiên nhiên.

Ðộng Ðầu Gỗ không kỳ diệu bằng dộng Thiên Cung, nhưng gây cho tôi một ấn tượng sâu xa khi tôi được biết đây là nơi Trần Hưng Ðạo dùng để chứa gỗ và dưỡng binh trước khi khởi sự trận chiến trên sông Bạch Ðằng. Cái cảm giác tôi đang hít thở không khí Trần Hưng Ðạo và tướng sĩ đã hít thở, dẫm chân lên trên những vết chân của họ, và những bức tường như còn ghi âm vang của những cuộc bàn thảo, tranh luận, cũng như những phấn khởi, phẩn nộ của tiền nhân, làm cho lịch sử trong giây phút bỗng trở thành kinh nghiệm sống của tôi.

8.     Một Hoàn Cảnh Ðặc Biệt, Một Cơ Hội Ðặc Biệt.

Việt Nam không phải là một nơi để một người đến xem rồi trầm trồ khen ngợi. Ðây là nơi mà rất nhiều thứ, đúng ra gần như mọi thứ, đều có thể được làm cho đẹp hơn, tốt hơn và hay hơn. Ðây là nơi mà nếu ai có một số vốn tương đối nhỏ (so với số vốn cần thiết để đầu tư, ví dụ, bên Ðài Loan hay Nhật), một chút tài năng, một chút sinh lực là có thể tạo dựng và thành công.

Ðây cũng là nơi mà người dân rất nhạy cảm về danh dự quốc gia dân tộc và, do kinh ngiệm lịch sử, rất dè dặt đối với người nước ngoài, nhất là những nước ngoài có sức mạnh (tư bản hoặc quân sự). Khi giao dịch với nước ngoài ngay cả chỉ về thương mại và tài chánh, nếu cảm thấy như danh dự bị đụng chạm hoặc chủ quyền bị sức mẻ, họ có thể rút lui và giữ một thái độ xa cách ngay.

Người ngoài khó đoán được những gì sẽ xảy ra vì ít ai biết được cách hành sự của chính quyền trung ương ở Việt Nam. Cách thức họ đi đến một quyết định có vẻ cũng chậm chạp như Nhật Bản. Tuy nhiên có dấu hiệu cho thấy giới lãnh đạo có lắng nghe và đang có những thay đổi quan trọng. TPHCM là thí điểm đầu tiên cho phép bán đất cho tư nhân. Hiện đang có thảo luận trong giới lập pháp về vấn đề sửa đổi thuế trị giá gia tăng để cho công bằng hơn và dễ áp dụng hơn.

Hiệp ước thương mại với Hoa Kỳ chắc chắn sẽ giúp cho Việt Nam vượt qua rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, hiệp ước thương mại không thể giải quyết mọi vấn đề mà Việt Nam phải đương đầu. Tương lai của Việt Nam có sáng sủa hay không có lẽ tùy thuộc vào khả năng của giới cầm quyền hiện tại hiểu được điều gì tốt cho Việt Nam và nghĩ ra được phương cách để đạt được những điều đó. Và cũng tùy thuộc vào khả năng chấp nhận đối thoại với những người không đồng ý với họ mà không cảm thấy bị đe dọa.

Hiện nay không biết bao nhiêu người bày tỏ lòng yêu thương Việt Nam. Thương yêu không phải là vấn đề. Thương yêu như thế nào mới là vấn đề, bỡi vì điều đó đòi hỏi hành động và chọn lựa, hành động hữu hiệu và chọn lựa đúng.

Việt Nam trong lúc này không khác với Hoa Kỳ bao nhiêu vào lúc Hoa Kỳ dành được độc lập từ người Anh – trong cái nghĩa là những nhà lập quốc Hoa Kỳ đã phải hành động và chọn lựa. Và những hành động và chọn lựa của họ đã có ảnh hưởng sâu xa trên hướng đi của quốc gia mới. Giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay cũng đang đứng trước một thử thách tương tự, lèo lái nước Việt đi đúng hướng để mang hạnh phúc và thịnh vượng cho dân Việt. Trách vụ của họ đã được làm cho dễ dàng hơn rất nhiều so với các nhà lập quốc Hoa Kỳ năm 1776 bỡi vì ngày nay, tin tức sẵn sàng và đầy đủ, từ những nghiên cứu, sưu tầm, thống kê trong các viện đại học hoặc các học viện nghiên cứu, cho tới kinh nghiệm của những quốc gia đã đi trước. Ðó là lý do tại sao nếu họ thất bại trong việc đem lại cường thịnh cho Việt Nam, khó có ai có thể tha thứ cho họ được.

Luật Sư JOHN P. LÊ PHONG.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

three × four =