IN CELEBRATION OF VALENTINE DAY

IN CELEBRATION OF VALENTINE DAY 

Mai and I celebrated Valentine Day just like everyone else in the U.S. Even though it rained hard in the Bay Area, we had a very good time. Dim sum lunch with our son, aunts and cousins in San Jose; a night out meeting and greeting new friends, five course dinner, singing (by professionals including two of our cousins – not us), and dancing.

The next day, Sunday, we got together with Titi , daughter of an old friend, in San Francisco.

THANK YOU TITI FOR SPENDING YOUR PRECIOUS                                         TIME BEING WITH US

Having lunch at the Slanted Door – on the fancy menu, the one item we liked best (surprise, surprise) was “pho”, very simple with just some choice meat, large noodle and its exceptionally tasty juice. The combination just made you want to eat more, especially when it rained outside the window.

On February 14, a Roman emperor executed a Christian martyr named Valentine. Incredibly, he executed another martyr, a few years later, also named Valentine and also on February 14. That explains February 14 the St. Valentine Day.

But how and whose idea was that to transform a gruesome day like that into a day of romance and love?

Before the Christian tradition of celebrating St. Valentine Day on February 14, the ancient Romans had celebrated something called the Feast of Lupercalia on February 15. It was an occasion for men (Roman men) to get drunk and run around naked doing crazy things like killing dogs and used their hides to whip women. Believe it or not, women (Roman women) were just all too willing to be accommodating: they got in line to take turn for the men to hit them so that they would be more fertile. The Catholic Church conveniently combined both events into one Valentine Day, and naturally February 14 was chosen.

But, that was not romance.

We can’t help suspecting that commercialism may have something to do with the tremendous success of romanticizing Valentine Day.

Regardless, the Church may commemorate the martyrs on this day, but the mass, Catholics and pagans alike, just want to have a good time. And while doing it, we contribute hugely to the economy.

What a beautiful day!

JOHN P. LE PHONG, ESQ.                                                                                    Corona, CA Feb. 20, 2019

PHIẾM LUẬN VỀ MƯA (và Một Số Đề Tài Khác Nữa)

PHIẾM LUẬN VỀ MƯA ̣                                                                                                (và một số đề tài khác nữa)

Việt Nam mưa nắng hai mùa. Mưa luôn sáu tháng phải nói là nhiều, quá nhiều. Trong tiếng Việt vì vậy có rất nhiều trạng từ và tĩnh từ để chỉ các lọai mưa khác nhau: mưa dầm, mưa dầm dề, mưa lâm râm (hoặc lâm dâm ), mưa phùn, mưa ngâu, mưa rả rích, mưa lây phây, mưa lũ, mưa rào v.v…

Vì vậy tôi không gặp khó khăn khi diễn tả cái mưa ở niền Nam California trong mấy tháng vừa qua: mưa dầm dề ray rức triền miên. Tôi ở đây khá lâu nhưng chưa bao giờ thấy mưa như vậy. Cứ vài ngày lại nhận được lệnh di tản trên iphone (không phải cho chúng tôi – vùng tôi không bị). Hôm nay có một hiện tượng mới mà ở Việt Nam tôi chưa bao giờ thấy: mưa tuyết ở Corona. Trong không gian xám, cả ngàn sợi chỉ trắng treo trên không trung, chỉ tan thành nước khi chạm đất.

Tuy xa Việt Nam đã lâu, nhưng trận mưa kỳ này, thỉnh thoảng dầm dề thỉnh thoảng rỉ rả, gió tạc, sự ướt át, “đường trơn ướt tiêu điều” mang lại không ít những kỷ niệm cũ của những ngày xưa, tưởng là xa lắm, tưởng đã quên.

Mưa dễ gây xúc cảm. Xúc cảm kích thích trí tưởng tượng, và trí tưởng tượng là mầm giống của sự sáng tạo. Nhưng với cái mưa Việt Nam, triền miên qua cả ngàn năm, con người không khỏi cảm thấy bất lực.

Tổ tiên chúng ta không có phương tiện hoặc dụng cụ nào khác để mưu sinh ngoài hai tay và hai chân. Ngay cả dép cũng không có. Đi chân không gánh nặng, hai ngón chân cái (ngón chỉ) châu vào nhau cho nên giống Lạc Việt (tổ tiên của chúng ta) có tên là Giao Chỉ. Trời mưa như trút nhưng che mưa bằng lá. Đi gánh lúa, đi thi cử, đi cưới vợ và đón vợ về nhà đều phải đi bộ. Sinh lực chỉ vừa đủ để chống đỡ những trở lực thiên nhiên để sinh tồn, còn đâu để tiếp liệu cho óc tưởng tượng. Ngay cả khi muốn và cố gắng sáng tạo, thành quả thường là sơ đẳng và thô thiển: nhà tranh vách đất và nền đất sét; xây cầu bằng tre (cắm nạng bằng thanh tre hình chữ X xuống lòng sông rồi để một cây tre khác trên cái nạng); tổ tiên chúng ta có lẽ chưa bao giờ nghĩ tới đừng nói chi đến việc xây đường sá.

Vì hoàn cảnh xã hội (chiến tranh liên tục), vì mặc cảm của tổ tiên (bị đuổi ra khỏi Động Đình Hồ) hay vì những lý do khác, dân Việt hay trầm tư. Khi mưa đến, cái bẩm sinh trầm tư đó có lẫn lộn với buồn. Không buồn ít cũng buồn nhiều. Qua Mỹ đã 50 năm rồi, tôi vẫn chưa bỏ được sự trầm tư pha chút buồn khi nhìn mưa và nghe tiếng mưa.

Khi buồn và muốn đi tìm nơi nương náu hoặc sự thông cảm, không đâu bằng “Đoạn Trường Tân Thanh”[i]:

                                        Buồn Trông Cửa Bể Chiều Hôm                                                                          Thuyền Ai Thấp Thoáng Cánh Buờm Xa Xa.

Một cái buồn thật là nhẹ nhàng, một cái buồn thật là thanh cao. Tuy trôi nổi truân chuyên, trôi nổi trong cuộc đời và trôi nổi trong ước vọng, nhưng thay vì mưa bão biến xúc cảm thành giận dữ nổ tung ra, xúc cảm trong Đoạn Trường Tân Thanh,  vẫn giữ được sự từ ngằn đắng đo. Có lẽ muốn nổi giận, phải có một mức độ sinh lực cần và đủ. Kiều rõ ràng là không có.

                                    Buồn Trông Ngọn Nước Mới Sa                                                                                   Hoa Trôi Man Mác Biết Là Về Đâu.

Cảm nhận cảnh vật từ trong lòng của một tâm hồn cao thượng. Nghệ thuật của Nguyễn Du một cách tuyệt diệu đã đưa cái đẹp và sự trong sáng vào tâm hồn của một người đàn bà sa cơ thất thế, đang rơi vào trong vũng lầy.

Văn chương Việt Nam tôi, đúng hay sai, không thấy viết nhiều về mưa hoặc xúc cảm liên quan tới mưa, một điều đáng ngạc nhiên cho một xứ nhiều mưa. Có lẽ khi có mưa, ta hay trầm ngâm và suy tư về những vấn đề khác. Trong thơ “tiền chiến” (nhạc sĩ Tô Vũ đã đặt vấn đề về tên gọi này), có những viên ngọc quý như “Buồn Đêm Mưa” của Huy Cận. Nguyên cả bài là trân châu, nhưng chỉ xin trích một vài câu:

                                      Tai Nương Nước Giọt Mái Nhà                                                                         Nghe Trời Nằng Nặng, Nghe Ta Buồn Buồn.                                                                             Nghe Đi Rời Rạc Trong Hồn                                                                              Những Chân Xa Vắng Dặm Mòn Lẻ Loi …                                                                                Rơi Rơi … Dìu Dịu Rơi Rơi …                                                                                       Trăm Muôn Giọt Lệ Nối Lời Vu Vơ … 

Sau hơn 100 năm, Huy Cận như bồi đắp triển khai thêm cái “giòng buồn khi nghe mưa” đã đưa vào thơ Việt Nam bỡi thi hào Nguyễn Du qua ĐTTT.

Trong âm nhạc, mưa như được chú ý nhiều hơn và âm điệu phong phú hơn. Từ mưa với sinh lực, mưa “bình thảng”, mưa “thắt ruột”, cho tới mưa “mộc mạc”… Nhiều bản nhạc có chữ “mưa” trong đó, nhưng mưa chỉ là phụ thuộc. Đối với Nguyễn Văn Đông:

                                      Chiều Mưa Biên Giới Anh Đi Về Đâu                                                                           Sao Còn Đứng Ngóng Nơi Giang Đầu 

“đứng ngóng” là chủ đề của bài hát. Còn anh đang đứng dưới mưa ở biên giới, ở giang đầu hay ở góc Moran và Bolsa nhớ tới em tình cảm của anh không khác nhau gì hết. Nhận xét tương tự có thể áp dụng vào một số bài hát khác có “mưa” trong đó.

Nhưng khi nghe “Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa”, chúng ta thấy mưa không phải chỉ là bối cảnh mà là một yếu tố chính dính liền với chủ đề của bản nhạc và xúc cảm của người nhạc sĩ. Nếu em đến thăm anh khi trời nắng cháy mồ hôi nhễ nhại, thì mắt huyền của em sau khi đi xa trong nắng như vậy khó mà còn giữ được sự trìu mến, và “sưởi ấm lòng anh” là một điều rất khó cho em.

Cái buồn của Châu Kỳ khi nghe mưa, cũng hiền hòa như Tô Vũ mà còn êm ái và nhịp nhàng hơn trong “Mưa Rơi”:

                                   Mưa Rơi … Màn Đêm Xuống Rồi
Mây
Sầu Khắp Nơi, Thương Nhớ Đầy Vơi                                                                   Bâng Khuâng Nghe Tiếng Tơ Dịu Dàng
Nhìn
Lá a Theo Hoa Tàn                                                                                             Tiếc Than Phút Giây Lìa Tan. 
Ai
Đi NXóa Bao Lời Thề.
Thuyền
Theo Nước Trôi Không V
Thấu
Cùng Lòng Ai Não N 

Có lẽ ảnh hưởng của Ưng Lang làm nhẹ cái buồn-vì-mưa của Châu Kỳ vì trong “Xin Trời Thôi Mưa” ông viết một mình, cài buồn cùa ông ray rức và não nuột như Hoàng Lang và Thùy Linh trong “Một Chiều Mưa”:

                                     Một Chiều Mưa,  Một Chiều Mưa                                                                                        Một Chiều Mưa, Mưa Rơi                                                                                  Lạnh Lùng Quá Buốt Giá Lẻ Loi Riêng Mình Ta …

Lẻ loi riêng mình ta! Hoàng Lan và Thùy Linh than vãn về sự lẻ loi của mình.

Nhưng khi trời mưa, có khi mình thích được ngồi một mình.

Luật Sư JOHN P. LE PHONG

Corona CA, Ngày 22 Tháng Hai, Năm 2019.

[i] Nhiều khi chúng ta cứ vắn tắt kêu là Truyện Kiều , nhưng “Đoạn Trường Tân Thanh” là kiệt tác văn chương của Tiên Điền Nguyễn Du. Cụ mượn Vương Thuý Kiều làm nhân vật chính cho ĐTTT từ một truyện ngắn rất thô sơ của Dư Hoài bên Trung Hoa. Và ngay cốt truyện của ĐTTT cụ Nguyễn Du đã mượn từ “Kim Vân Kiều Truyện” không thay đổi của Thanh Tâm Tài Nhân. Nhưng gọi ĐTTT là Truyện Kiều thì không khác gì cứ tiếp tục gọi là “Hòn Đá” sau khi hòn đá đã được khắc thành tượng Venus de Milo. Kiều, và ngay cả Từ Hải, qua ngòi bút của Nguyễn Du không còn là nhân vật tầm thường; dầu cho đời sống vật ngã bao nhiêu lần, vẫn giữ được một tấm lòng tốt và một tâm hồn cao thượng.