TƯỞNG NHỚ TÔ THẾ LIỆU VÀ BÙI NHỮ TRỤ

Miền nam California có những ngày đẹp, như người Việt mình thường nói, không chịu được. Nếu không sống ở đây, không experience sự kỳ diệu đó, thì khó mà mô tả cho những người sống ở những nơi khác như Texas hiểu được. Trong những ngày như vậy tôi chỉ muốn nhìn lên bầu trời thầm cảm ơn, cảm thấy được ân huệ, hạnh phước, đầy sinh lực và lòng yêu thương.

Ngày chôn cất Liệu, trời đất, như lãng trí và thiếu một ý thức về sự thích hợp và cân xứng, đẹp như vậy. Cỏ xanh như chảy dài giữa những cây thông. Đứng trên đỉnh đồi nhìn chung quanh, cảm giác của một người là đang chiêm ngưỡng một bức tranh. Nhìn quanh tôi có thể nhận ra rất nhiều khuôn mặt quen thuộc và cũng rất nhiều những khuôn mặt đăm chiêu tôi không quen biết. Liệu ra đi trong khung cảnh như vậy, bạn bè vẫn còn đó, vườn cỏ vẫn còn xanh và mặt trời vẫn còn lên – xin mượn lời Trịnh Công Sơn – như gia trọng nỗi xúc cảm, tự nó đã u uẩn và nặng nề.

Có một cái gì không trọn vẹn, không hoàn thành, như đứt đoạn nửa chừng. Có thể đó chỉ là cảm xúc của tôi còn sự thực không hẳn đúng như vậy. Nhưng trong giây phút đó, tôi như sống lại một giấc mơ, trở về một khung trời tuy khác hẳn nhưng rất quen thuộc, trong đó một thế hệ đã sinh ra và lớn lên. Và có lẽ không một nhóm hay đoàn thể nào tượng trưng trung thực cho thế hệ đó hơn nhóm giáo sư Văn Hóa Vụ Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt: tốt nghiệp đại học, khỏe mạnh, đầy khả năng sinh lực và hoài bảo.

Nhưng định mệnh như ra khỏi tầm tay.

Đứng nhìn quan tài Liệu hạ huyệt ngày hôm đó, tôi cảm thấy như muốn chảy nước mắt.

Ở quán ăn Hà Nội, tôi hỏi Liệu có nghĩ đến việc ra một tờ báo hay không. Liệu trả lời: “thôi toa”. Câu trả lời bày tỏ một thái độ hơn là thông tin cho nên tôi không chắc đã hiểu rõ ý của Liệu. Khi vừa bước chân vào, Liệu chào hỏi gần hết những người ngồi ăn trong quán, còn tôi biết một hai người nhưng không quen ai. Vì vậy tôi không hỏi tiếp, ý thức sự hiện diện của nhiều bạn bè của Liệu và sự tế nhị của hoàn cảnh.

Sau đó không lâu, chúng tôi lại có dịp gặp nhau. Tuy Liệu không nói ra một cách rõ rệt, tôi thấy Liệu không vui với việc làm hiện tại. Tôi lại đề cập đến vấn đề làm báo. Liệu trả lời giống y lần trước “thôi toa”. Tôi tò mò muốn biết ý nghĩa của hai chữ “thôi toa”.

-Nghĩa là sao?

-Moa không có giờ.

-Ông có thích chỗ ông đang làm không?

-Cũng tạm thôi.

-Khi ra báo rồi thì ông đâu có làm việc nầy nữa, sao lại không có giờ?

-Làm báo cực lắm toa.

-Ông đang làm tờ Tin Thư Văn Hóa Vụ, rất được, còn nhiều bài vở hơn hẳn các tuần san với nguyệt san ở đây. Đã làm tờ TTVHV thì thêm một ít giờ nữa làm luôn một tờ báo thương mại. Moa nghĩ tờ báo ông làm nếu không hơn 90% những tờ báo đang ra ở đây, thì cũng không thua được.  Ông chỉ cần kiếm quảng cáo…

-Lấy quảng cáo khó lắm toa.

-Well! Nếu làm báo ông sẽ không làm một mình. Không cần nhìn xa, trong Văn Hóa Vụ đã đủ nhân tài để ông tìm partners. Còn làm dịch vụ thì sao?

-Thôi toa.

-Ông có cả lô bạn làm dịch vụ. Họ làm được ông làm được.

-Phiền phức lắm toa.

-Ông có làm bao giờ chưa mà biết nó phiền phức?

Liệu cười, khúc khích, hiền lành và tự nhiên.  Khi nhìn Liệu cười tôi hiểu được tại sao Liệu có nhiều bạn. Và tiếng cười của Liệu trong điện thoại đã cứu vãn được tình bạn của chúng tôi.

Liệu hỏi ý kiến tôi giùm cho một người bạn về một vấn đề luật pháp. Tôi trả lời có lẽ hơi dài dòng, vừa pháp lý vừa thực tế dựa vào kinh nghiệm làm việc của tôi. Tôi chấm dứt cuộc điện đàm khi Liệu nói “Cậu thế mà biết nhiều nhể”, như thể Liệu ngạc nhiên vì tôi hiểu biết một vài điều, ngay cả điều trong ngành của tôi.

Rồi tôi cũng quên đi cho đến khi Liệu bị bệnh. Tôi có vào City of Hope thăm nhưng Liệu đã về nhà rồi. Sau đó trong điện thoại Liệu cho biết thử nghiệm cho thấy bệnh đang thuyên giảm. Vì Liệu vô ra nhà thương nhiều lần, và vì mỗi khi nói chuyện, Liệu rất lạc quan cho nên tôi hiểu sai bệnh trạng của Liệu. Trong những lần nói chuyện sau đó, Liệu cứ lập lại cái điệp khúc “qua đây uống cà phê. Sao cậu trốn anh em kỹ thế”. Đối với tôi, đó là dấu hiệu Liệu rất bình thường.

Khi tôi có thể qua thăm Liệu được nhân dịp dự party nhà em của chị Liệu, thì Liệu không có đó, đang nằm ở nhà thương. Mấy hôm sau Liệu gọi qua, tôi nói có mang cho Liệu một chai Kendall-Jackson, rượu vang số một ở Mỹ. “Cậu biết nhiều về wine nhể”. Tuy lần này không có chữ “thế mà”, nhưng tôi vẫn cảm thấy chạm nọc và bắt đầu hơi nóng thì nghe tiếng cười của Liệu trong điện thoại. Tôi hiểu ra rằng Liệu không thể nào có ẩn ý. Tôi nguội lại, hứa sẽ qua thăm, và cảm thấy hơi hối hận. Như một hình thức xin lỗi, tôi nói với Liệu thực sự tôi không biết nhiều về rượu như Liệu nghĩ. Kendall-Jackson là vì tình cờ tôi đọc báo, còn sự hiểu biết của tôi về wine, hay bất cứ rượu gì, là như thế này: loại giá $23.99 ngon hơn loại giá $7.99.

Tôi đề cập với Liệu hai vấn đề trên là vì tôi thấy Liệu có thể làm được. Làm báo như đã nói trên. Dịch vụ chỉ cần một khả năng hoặc vốn liếng duy nhất: xã giao quen biết. Tôi chưa thấy ai quen biết nhiều như Liệu. Saigon Bistro nằm một nơi vắng vẻ. Nhưng khi Liệu đi với tôi, chỉ có một lần, vừa đến là nghe tiếng chào hỏi vọng ra “đi đâu đây”? Không phải chỉ một người, cả bàn quen biết Tô Thế Liệu. Cách Liệu chào hỏi ứng đáp biểu lộ một tính tình hiền hòa, chân thật và thân thiện, nồng nhiệt trong thái độ và tự nhiên trong cử chỉ.

Sự tự nhiên như cá gặp nước đó, cũng như hoạt bát và chính xác trong ngôn ngữ, tỏ rõ nhất khi Liệu điều hợp các buổi họp mặt của VHV. Vui và ấm trong giọng nói, khôi hài thỉnh thoảng nhưng hợp lúc, ôn tồn và từ ngằn trong cách trình bày, Liệu có tài mà hình như không biết mình có tài, không phô trương, không chen lấn, không kể công và không làm điều gì với hậu ý. Liệu không hăng hái trong việc ra một tờ báo thương mại, nhưng lại nồng nhiệt đốc thúc mọi người góp sức xuất bản một cuốn tự điển bách khoa.

Tánh tình của Liệu làm tôi nhớ tới Bùi Nhữ Trụ.

Tôi không thể nhớ lại được làm sao tôi lại vào ở chung phòng với Bùi Nhữ Trụ ở khách sạn Thủy Tiên II ở Đà Lạt. Sự kiện tôi, thuộc loại lính mới, đàn em, vừa đến dạy ở Võ Bị lại được vào chia một phòng ở Thủy Tiên là một biến cố trọng đại. (Nhưng tôi chỉ biết sau này. Khi mới đến, tôi như đi trong một giấc mơ, không để ý đến cái gì hết. Tôi ghét nguyên cả thành phố).

Khi lái xe trên Highway 1 (Pacific Coast Highway), đi từ Santa Monica về hướng Malibu, phía bên tay phải sườn đồi dựng đứng như một bức tường đá từ mặt đường Highway 1 lên đến mép đồi. Thử tưởng tượng Malibu cho phép xây một khách sạn trên đồi này mà bức tường ngoài của khách sạn cách mép của sườn đồi vào khoảng hai thước. Thay Malibu bằng Đà Lạt thì cái khách sạn tưởng tượng đó là khách sạn Thủy Tiên II và phía dưới thay vì Highway 1, sườn đồi đổ thẳng góc xuống một trường tiểu học.

Có thể nói là sống ở Thủy Tiên II, chúng tôi sống với sự nguy hiểm hằng ngày và, như một vị nào đó đã nhận xét, chúng tôi mang nguy hiểm vào giường ngủ mỗi đêm, nhất là khi trời mưa (và Đà Lạt mưa nhiều hơn nắng) đất có thể chùi, khách sạn có thể sụp bất cứ lúc nào.

Nhưng đối với giáo sư VHV, Thủy Tiên II như một khách sạn năm sao, một đặc quyền chỉ các đàn anh, thế lực hoặc quen biết lớn mới vào được. Khi đã vào rồi các anh làm đủ cách để chiếm nguyên một phòng cho riêng mình không muốn chia cho ai hết, kể cả vung vải quần áo dơ khắp nơi để không ai dám ở chung.

Một hôm Trụ hỏi tôi có biết X, cũng dạy ở Võ Bị, hay không. Tôi nói không. Trụ chỉ cười không nói tiếp. Mấy hôm sau một người bạn khác cho tôi hay là X bảo Trụ đừng để tôi ở chung lâu như thế. Tôi hỏi Trụ có đúng X nói như vậy hay không. Chưa hết nóng, tôi cho Trụ hay là tôi sẽ dọn ra ở với cậu tôi. Trụ vừa cười vừa nói X không có ý gì xấu đối với tôi hết, chỉ vì, như những vị đang một mình một cõi, không muốn trường hợp tôi trở thành một tiền lệ để VHV trưởng hoặc chỉ huy trưởng buộc các vị đó phải chia phòng với các sĩ quan khác, chỉ có vậy thôi. Rồi rủ tôi xuống Mekong. Đó là Bùi Nhữ Trụ, không một chút ẩn ý và không thể nghĩ ai có ý xấu. Tôi thấy rất dễ chịu. Mọi sự có vẻ tốt đẹp, không giống như năm phút trước đó.

Kết bạn dễ dàng, di dộng tự nhiên thoải mái từ nhóm này sang nhóm khác và ở đâu cũng được hoan nghênh tiếp đãi nồng nhiệt là khả năng độc đáo của Trụ. Tôi chưa bao giờ thấy Trụ nóng giận và lớn tiếng. Trừ một lần bị chỉ định trực thế cho một vị nào đó vào cuối tuần. Tôi không nhớ rõ ai chỉ định, Lê Văn Nhậm, Nguyễn Văn Thời hay Nguyễn Ngọc Bội. Khi thấy Trụ đóng bộ, tôi hỏi đi đâu đó, Trụ đỏ mặt trả lời: “Cái thằng củ c— bắt tao trực thế cho thằng … bữa nay!” và giọng nói chỉ hơi khác nhưng không cao hơn bình thường bao nhiêu.

Một cá tánh như vậy, giống như Liệu, biểu lộ một bản chất đối nghịch với bon chen, không hòa hợp được với sự bon chen. Tuy nhiên trong hoàn cảnh chúng tôi đang sống lúc đó, bon chen là một sự cần thiết. Và Trụ hình như ý thức điều đó.

Một hôm Trụ đi về có vẻ yên lặng hơn thường lệ. Như biết tôi đang để ý, Trụ nói: -Trung Úy … vừa được lệnh cho về Saigon. Trong cách Trụ nói tôi cảm thấy như có một chút ước mong.

-Toa lên đây cũng lâu rồi, sao không xin đổi về Saigon?

-Tao làm đ– gì có tiền. Thằng … (ông Trung Úy) có cả một hãng bán vật liệu xây cất ở Phan Thanh Giản.

Nhưng Trụ cũng biết rằng tiền không phải là yếu tố cần và đủ. Có những người khác được thuyên chuyển mà không nhờ đến tiền.

Nhưng có cái gì trong cá tánh làm cho Trụ hình như đố kỵ việc xin xỏ chạy chọt. Trụ không bao giờ nói mày có thuốc lá cho tao một điếu. Bùi Nhữ Trụ không xin, ngay cả chỉ xin bạn bè thuốc lá.  Cách thức của Trụ là “có mang thuốc không mày, đưa tao một điếu. Không hiểu tao để bao thuốc ở đâu”. Như tiềm thức không cho phép Trụ làm hay nói điều gì, dù nhỏ bé, có thể tổn hại đến tư cách của mình.

Động lực tiềm ẩn đó, a sense of dignity, làm cho Trụ trông rất khôi hài khi lâm vào hoàn cảnh bị chi phối bỡi hai đối lực. Lực một, ngoại cảnh làm cho Trụ muốn dấn thân. Lực hai, sự e ngại phải đối đầu với những điều bất ngờ, phiền toái hoặc xấu xí. Giải pháp của Trụ là chọn phương cách gián tiếp hoặc đi bên lề.

Một buổi chiều không biết làm gì – và chúng tôi có rất nhiều những buổi chiều như vậy – Trụ cắn điếu thuốc giữa hai hàm răng vừa cười vừa nói “Mày lại nhớ tiệm chè Duy Tân, sao không đi đi? Nếu ngại đi một mình thì ông đi với mày cho vui”. Câu này Trụ nói, và là người rủ tôi đi chớ không phải tôi rủ Trụ đi xuống Duy Tân.

Trụ thường kéo tôi xuống chợ mới Hòa Bình thăm chị Nghĩa. Đi một hai lần, tôi biết chị Nghĩa rất mến Trụ (vì vậy tôi dùng tên chị mà không ngại chị giận nếu chị đọc được bài này).

Một hôm Trụ thắng bộ có cả cravate rủ tôi xuống phố. Trụ vẫn thường cravaté nên tôi không thấy có gì đặc biệt. Sau khi đi quanh khu Hòa Bình, chúng tôi lại hướng về khu chợ mới.

Một ngày tiêu biểu trong cuộc đời của một giáo sư VHV bắt đầu, trong trường hợp của tôi, khoảng 7:00AM, dạy một hoặc hai lớp ở Võ Bị trễ lắm 10:00AM là xong; rồi trở về Thủy Tiên khi Đà Lạt vẫn chưa thức dậy, thay quần áo xuống phố đi dạo một vòng cho đến giờ ăn; ăn xong lại đi dạo chờ giờ đi ngủ. Thành thử ngồi ở Mekong, hay Cafe Trúc, Cafe Tùng, Chè Duy Tân, nhà Thủy Tạ, hay đi ngang quán bánh mì cà phê bí tất gần bến xe hoặc xuống chợ Hòa Bình, chợ mới … đối với tôi exciting như nhau nghĩa là exciting hơn ngồi ở Thủy Tiên nhìn bức tường.

Bỡi vậy khi chợt thấy mình đặt chân xuống cái cầu nối vào cửa chính chợ mới, tôi không nghĩ là có gì đặc biệt hôm đó. Trụ chào hỏi chị Nghĩa bình thường, cười bình thường nghĩa là môi mở lớn nhưng điếu thuốc vẫn giữa hai hàm răng. Chị Nghĩa cười thật tươi rồi quay vô trong. Khi quay ra chị bước về phía Trụ, trên tay có hai chai champagne.

Đây là một việc có hơi bất thường. Bây giờ tôi không nhớ chị Nghĩa nói gì nhưng tôi không quên câu nói của Trụ – đang tìm cách che đậy sự bối rối – “chị Nghĩa cho thì lấy đi mày, lại còn vờ”. Tôi muốn cười chết đi được nhưng không giám trước mặt chị Nghĩa.

Sau này tôi đoán, nhưng cho đến nay vẫn không biết chắc, đó có lẽ là dịp sinh nhật của Trụ. Trên đường về tôi không thể bỏ qua được. Tôi cố nín cười cao giọng chỉ trích là Trụ đã xúc phạm chị Nghĩa vô biên khi gọi chị bằng chị. Tôi nói sự kiểu cách nghiêm trang của Trụ sai chỗ, chẳng khác gì như Lục Vân Tiên bảo Kiều Nguyệt Nga “thôi thôi ngồi đó chớ ra, nàng là phận gái ta là phận trai”, ra vẻ đĩnh đạt nhưng nghe vừa cả đẩn vừa tối dạ. Trụ cười “mày … chị Nghĩa rất đoàn hoàn”. Tuy không hiểu rõ câu này, nhưng tôi không hỏi nữa, sợ rằng sự đùa nghịch có thể đi quá xa.

Nhưng tôi đoán chắc Trụ không có ý gì cả. Tôi có cảm giác Trụ quá lịch sự, quá lễ độ trong sự giao thiệp với phái nữ. Đức hạnh đó có lẽ có lợi rất nhiều khi cha mẹ đi hỏi vợ cho, nhưng ái tình đòi hỏi táo bạo và liều lĩnh hơn một chút. Trong thời gian tôi ở Đà Lạt, tôi chưa bao giờ thấy Trụ đi xa hơn “cô” và “tôi”.

Tôi xin kể ra đây một câu chuyện Trụ kể lại cho tôi nghe. Ngôn ngữ có hơi táo bạo, nhưng tôi phải thuật lại nguyên văn mới diễn đạt được cái thâm thúy của câu chuyện. Trụ ngồi uống cà phê với T (cũng dạy ở Võ Bị). Bàn bên cạnh có một sĩ quan vừa mới đi tu nghiệp ở Mỹ về. Vị sĩ quan trong lúc nói chuyện hay châm thêm tiếng Anh làm cho T rất nực. Khi vị sĩ quan này nói là ông ta quên tiếng Việt vì qua Mỹ lâu quá thì T hết chịu nổi, lớn tiếng cho cả thế giới cùng nghe “Đ-ụ m-á, ông di cư vào Nam lâu quá ông quên cả chữ đ-ị-t m-ẹ”.

Trụ kể lại với sự sôi nổi và hứng khởi của một người vừa gặp được bạn tri kỷ. Khi vừa nghe, tôi có cảm giác Trụ đang bày tỏ một thái độ: “anh đi Mỹ có mấy tháng làm đ– gì quên được tiếng Việt. Chỉ lõm bõm mấy chữ tiếng Anh nhặt trong tự điển ra lại điệu. Ăn phở vẫn còn nhớ đòi thêm hành trần với nước béo thì anh đừng có lên giọng quên tiếng Việt với chúng tôi”. Nhưng sau đó tôi thấy không hẳn như vậy.

Trong ngày tôi thấy thỉnh thoảng Trụ lại cười. Hỏi thì Trụ cho biết là đang nghĩ tới câu nói của T. Dần dần tôi nhận ra là Trụ để tâm nếu không hoàn toàn thì cũng nhiều về câu nói của T hơn là sự lú lẫn của ông sĩ quan. Trong cách thức riêng của Bùi Nhữ Trụ, Trụ để lộ sự thán phục của mình về sự nhanh trí, giọng lưỡi bén nhọn và khả năng chơi chữ của T và gần như không còn bận tâm với cái nguyên cớ khích động phản ứng của T. Mấy ngày sau gặp lại vị sĩ quan này, Trụ vẫn chào hỏi và tôi không thấy có gì trong cử chỉ của Trụ khác hơn bình thường, nghĩa là vẫn lịch sự và nhã nhặn.

Tôi nhớ sự lịch thiệp, khoáng đạt trong tánh tình của Trụ và Liệu. Tôi nhớ tiếc sâu xa sự hiện diện của Trụ và Liệu, sự hiện diện lúc nào cũng mang đến niềm vui và sự thoải mái cho những người chung quanh. Tôi cảm thấy rất hân hạnh được quen biết hai bạn, rất vinh dự đã được là bạn của hai bạn, và sẽ mãi mãi vẫn nhớ hai bạn trong tình cảm đó.

Luật Sư JOHN P. LÊ PHONG

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

two × 5 =